Thích Nguyên Giác: Bài 1: Giới-Ðịnh-Tuệ, Con Đường Thực Nghiệm Giải Thoát Và Tuệ Giác

Thich Nguyen Giac

Hòa thượng Thích Nguyên Giác (Ảnh: Nhuận Pháp)

Kinh “Toán số gia Mục Kiền Liên” (Trung bộ kinh III, 99 – 107, tu thư Vạn hạnh 1975, Thích Minh Châu dịch) ghi lại rằng: Khi được Bà La Môn Ganaka Moggallàna hỏi về một đạo lộ tuần tự trong pháp luật Ngài có khả năng dẫn người đệ tử đi đến cứu cánh niết bàn, Đức Phật đã trình bày cặn kẽ đạo lộ ấy qua mấy nét chính sau:

  • Sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn
  • Hộ trì các căn
  • Tiết độ trong ăn uống
  • Chánh niệm tỉnh giác
  • Trừ bỏ năm triền cái
  • Thực hiện 4 thiền.

Sáu trình tự ấy có thể tóm lược lại vào ba loại: Giới (chế ngự bằng giới bổn ; tiết độ ăn uống), Định và Tuệ (Hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác v.v…). Bản kinh tuy không trực tiếp nói gì về Minh (vijja), tức Tuệ, như là mục đích cứu cánh mà một hành giả phải đạt đến, sau khi hướng tâm xả niệm thanh tịnh của mình, trong giai đoạn thiền thứ tư, vào việc đoạn tận các lậu hoặc: dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, như ta thường thấy nó đã được diễn tả trong các bản kinh khác, chẳng hạn kinh Sáu thanh tịnh (Chabbisodhanasuttam), kinh Thân hành niệm (Kàyagatàsuttam) v.v… Nhưng nếu đối chiếu với các bản kinh nầy, và nếu định nghĩa Tuệ như là một hệ quả chánh định, chính xác hơn nữa, là một yếu tố có mối liên hệ nhân quả tương tác với chánh định, thì ta thấy không có một trở ngại gì khi sắp xếp sáu trình tự trên vào ba loại ấy. Suốt cuộc đời thuyết pháp độ sinh của mình, bằng nhiều cách thức khác nhau, Thế Tôn hầu như đã dành trọn thì giờ để chỉ dẫn một cách cặn kẽ cho mọi người về ba môn học gọi là Giới – Định – Tuệ nầy, xem đó như là một con đường độc nhất, một đáp án thỏa đáng và rốt ráo duy nhất cho bài toán giải quyết tận gốc vấn đề đau khổ của kiếp người, đạt đến niết bàn và thành tựu chánh trí. Ngay cả những giờ phút sắp nhập vào Đại Niết Bàn, những lời cuối cùng Ngài ân cần giáo huấn cho hàng đệ tử có mặt quanh mình giữa rừng cây sa la yên tĩnh, không một tiếng động vào nữa đêm hôm ấy, cũng chiếu rực lên ánh sáng nổi bật của ba hạt minh châu Giới – Định và Tuệ. Nội dung giới định tuệ ấy như thế nào? Có thật sự nó là đáp án rốt ráo duy nhất để giải quyết tận gốc vấn đề đau khổ, đạt đến Niết bàn và thành tựu Thánh trí? Tại sao? Hiện nay nó còn có giá trị gì cho nhân loại, và nói riêng, cho dân tộc Việt Nam?

NỘI DUNG GIỚI ĐỊNH TUỆ

Giới Định Tuệ được mệnh danh là tam vô lậu học, nghĩa là ba môn học đưa người thực hành đi đến chỗ đoạn tận lậu hoặc (lầm lỗi), đạt được Niết bàn an lạc và chứng đắc chánh trí. Ba môn học nầy tương quan mật thiết với nhau, nhờ giới mà có định, nhờ định mà phát tuệ, tương quan giữa chúng không phải chỉ có tính cách một chiều theo trình tự vừa kể, mà còn có tính tương tác nữa: định càng ổn thì sức trì giới càng mạnh; tuệ càng sáng thì định càng chóng đạt và giới càng dễ giữ. Tuy nhiên đối với người mới bắt đầu đi trên lộ trình hướng đến giải thoát và giác ngộ mà Đức Phật chỉ dạy, thì thứ tự Giới Định Tuệ là một quá trình thiết yếu cần phải học tập. Bởi vì bản thân còn quen phóng túng, tâm tư lắm xao động, và ánh sáng tuệ giác còn quá tản mạn chưa đủ khả năng đốt cháy hết mọi chướng ngại.

1. GIỚI:

Định nghĩa: Giới nói chung là những điều lệ quy định các hoạt động của một cá nhân, đoàn thể hay tổ chức xã hội… Nó vì thế phàn ánh hình thái sinh hoạt, và một phần nào định hướng tư duy cũng như chiều hướng phát triển của đơn vị, tổ chức ấy. Trên phạm vi quốc tế, giới là những công pháp bảo đảm cho sự ổn định các mối bang giao giữa các nước thành viên; trong một quốc gia, nó là luật pháp, của một đoàn thể là nội quy, của tôn giáo là những điều răn v.v…

Trong Phật Giáo nó được gọi là chánh giới và được định nghĩa là chỉ ác trưởng tịnh, với ý ngăn ngừa các điều ác và làm tăng trưởng các việc lành. Gọi giới là chánh vì hai lẽ. Một là có cơ sở thực tế: tất cả những giới điều Phật chế đều chỉ được quy định sau khi đã xảy ra một sự cố nào đó làm ảnh hưởng đến mục đích giải thoát, an lạc và giác ngộ của vị đệ tử, hay làm tổn hại đến danh dự cũng như bản thể thanh tịnh và hòa hợp của Tăng đoàn đang sinh hoạt theo pháp luật mà Ngài đang hướng dẫn. Nó hoàn toàn chưa bao giờ được đặët ra từ một niềm tin được mặc khải bởi thần thánh hay được ý thức suy luận. Chẳng hạn Ngài cấm các đệ tử uống rượu chỉ sau khi một Tỳ kheo nhân uống rượu dù bị mời ép, đã say mèm, ói mửa dơ dáy, không còn đi nổi về Tịnh xá và làm mất oai nghi chánh hạnh của một Tỳ kheo. Nhân việc mà đặt giới nên nó vừa có tính chất bất hồi tố, nghĩa là những ai phạm vào những điều trước khi nó được quy định thành giới thì coi như không có tội, lại vừa có tính chất uyển chuyển mềm dẻo, thuật ngữ gọi là “khai”: Một điều nào đó đã bị cấm lại được quyền biến cho phép làm trong những trường hợp đậc biệt, như bệnh tật, hay vì phải tùy thuận với phong tục tập quán của một địa phương v.v… Hai là nhất quán với mục tiêu mong muốn là giải thoát và giác ngộ. Bản chất Giới được thọ trì và mục tiêu tu học thật sự có liên hệ nhân quả mật thiết nhau. Nó được quy định nên chỉ giúp người học đạo tránh được những lệch lạc và nguy hiểm có thể gặp phải, mà an toàn chánh hướng đến Phật quả tối thượng, chứ không phải là do “xưa bày nay làm”, một kiểu giáo điều nặng tính bảo thủ và mù quáng.

Phân loại: Có các tính chất như trên nhưng tùy theo trình độ hoàn cảnh và pháp môn tu học của từng người, Đức Phật đã uyển chuyển chế ra nhiều loại luật nghi phù hợp với họ. Tổng quát có thể chia làm ba loại:

1. Giới tại gia: Những giới dành cho hàng cư sĩ, tức những người Ưu bà tắc (Cận sự nam) và Ưu bà di (Cận sự nữ) đã phát nguyện quy y Tam bảo. Chúng gồm các loại giới sau:
– Ngũ giới
– Bát quan trai giới
– Thập thiện giới.

2.- Giới xuất gia: Dành riêng cho người xuất gia,từ bỏ gia đình để chuyên tâm cần cầu sự giải thoát và giác ngộ. Chúng được phân loại theo trình độ và giới tính:
– Sa di và Sa di ni: gồm 10 giới
– Thức Xoa ma ni: Gồm 6 học giới và 296 hạnh giới
– Tỳ kheo: 250 giới
– Tỳ kheo Ni: 348 giới

3.- Bồ tát giới: Thông cho cả xuất gia và tại gia gồm 10 giới trọng và 48 giới khinh. Nó còn
được gọi là Bồ đề tâm giới. Lấy việc phục vụ chúng sanh làm bản chất giới: “Hiếu thuận chúng sanh là giới. Trên tinh thần nầy, nó được phân thành ba nhóm: Nhiếp luật nghi giới: Nghiêm giữ các giới mình đã thọ: Nhiếp thiện pháp giới: Nguyện làm mọi việc lành; và Nhiêu ích hữu tình giới: Thề cứu tất cả chúng sanh.

Tác dụng: Ngoài những công năng mà trong phần định nghĩa về giới đã trực tiếp nêu rõ, đó là khả năng phòng hộ cho người giữ giới khỏi những nguy hiểm làm tổn hại đến đạo nghiệp và khả năng trưởng dưỡng các thiện pháp đã sanh, những tác dụng khác của giới cũng cần được nói đến ở đây:
– Đào tạo một tinh thần kỷ luật
– Sanh định: Do tác dụng phòng hộ, giới làm cho người thọ trì nó gột sạch dần những tâm
lý ô nhiễm, như tham dục, hận thù, nghiện ngập v.v… nhờ đó tâm bước dần vào chánh định.

Khoan nói chi đến các luật nghi của hàng xuất gia, vốn mang rõ nét tính chất ly dục, một tính chất cơ bản của Định, ngay cả ngũ giới và đặc biệt là thập thiện giới của hàng Phật tử tại gia, chúng vẫn có khả năng sanh Định, cho dù ngũ giới chỉ giới hạn trong thân nghiệp và khẩu ghiệp.

– Sự an lạc và tự tin: Người không phạm vào một lỗi lầm. Khi phạm tội, trái lại, luôn luôn
bất an vì mang mặc cảm tội lỗi và lo sợ hình phạt phải chịu.
– Giữ gìn sự hòa hợp và đoàn kết, các đệ tử Phật sống chung với nhau, họp thành từng
chúng là để có điều kiện hỗ trợ và khuyến hóa nhau trên bước đường tu học. Tuyệt nhiên không phải nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi vật chất của giai cấp mình hay vì một mục đích nào khác.

Vì thế sức mạnh gắn bó tất cả các đệ tử Phật lại thành một khối, thống nhất thật sự không phải là các quyền lực thế tục do danh lợi, cuồng tín hay bạo lực mà chính là chính giới. Chỉ cần giở ngay trang đầu của bản kinh Di Giáo là ta thấy được điều nầy, và nếu có gì đáng nói thêm thì đó là điều nầy đã được Thế Tôn dùng để mở đầu cho bài kinh Di Giáo ấy. Tác đụng của giới cũng được người đệ tử thân cận Ngài nhất là A Nan viện đến để trả lời câu hỏi của Gopaka Moggallàna liên hệ đến vấn đề hòa hợp Tăng già: “Pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi” và “Không phải các Tôn giả xử sự chúng tôi, chính pháp xử sự chúng tôi” (Kinh Gopaka Moggallàna, Trung bộ kinh III 112-113, Thích Minh Châu dịch, Tu thư Vạn hạnh 1975). Pháp ở đây là Giới bổn (Patimokkha). Tại sao giới lại được Thế Tôn giao cho cái uy quyền tuyệt đối ấy? Bởi vì bằng tác dụng phòng hộ ba nghiệp và làm chỗ y chỉ cho tất cả đệ tử Ngài, giới tạo thành và bảo tồn trọn vẹn hai yếu tố cơ bản làm nên bản thể củaTăng là thanh tịnh và hòa hợp.

– Duy trì mạch sống Phật Pháp, có bảo tồn bản thể của Tăng, làm cho Tăng Bảo tồn tại và hưng thịnh, thì chính tịnh giới là nguồn nước nuôi dưỡng thọ mạng lâu dài của Phật Pháp.

2. ĐỊNH:

Định nghĩa: Nói một cách vắn tắt, Định là trạng thái an tịnh của tâm. Tâm an ổn nhờ đã dứt sạch các cấu nhiễm tâm lý đang làm hoen ố và đè nặng lên nó. Định như thế gọi là chánh định của Phật Giáo. Có người cho rằng định là sự chú tâm vào một đối tượng đang nhận thức.

Định nghĩa như thế cần được xét lại, bởi vì chú tâm vào một đối tượng chưa hẳn đã làm cho tâm được yên, nhất là khi đối tượng ấy là một đối tượng khả ái, khả hỷ, khả lạc và hấp dẫn, vốn là vị ngọt nuôi dưỡng các cảm thọ và ái trước. Huống chi sự quá chú tâm vào đối tượng tự bản thân nó cũng trở thành một thứ phiền não trở ngại cho sự tiến bộ trong thiền quán (xem Tùy phiền não kinh, sđd, 334). Cứ đọc những bản kinh mà Đức Phật mô tả các trạng thái thiền định trong quá trình tiến đến giác ngộ thì rõ, tất cả đều nổi bật lên một yếu tố quyết định khiến cho hành giả tiến thêm một bước về Định và tiến gần một bước về mục đích giải thoát, đó là xả. Chính xả là cốt lõi tạo nên thiền định. Từ bước đầu xả ly năm triền cái để thể nhập vào trạng thái sơ thiền, diệt tầm và tư để thể nghiệm trạng thái định sanh hỷ lạc, nội tỉnh nhất tâm của nhị thiền, cho đến diệt thọ và tưởng để nhập vào chánh định cao nhất là diệt thọ tưởng định, xả giữ vai trò then chốt. Ngay cả khi đạt đến vô tưởng tâm định nầy, muốn tiến lên diệt trừ ba lậu hoặc căn bản, cũng phải nghĩ rằng định nầy cũng là một pháp hữu vi do tâm tạo tác để xả bỏ ý tưởng muốn an trụ trong nó. Lấy xả làm cốt lõi, thì ta mới hiểu nổi tại sao trong kinh lại nói đến vô vàn tam muội như thế, từ những tam muội quen thuộc như ngôn ngữ tam muội, niệm Phật tam muội, pháp hoa tam muội, thần thông du hí tam muội, cho đến những thứ nghe còn rất lạ tai như a chum bà na tam muội v.v… Bồ tát cứ lấy chiếc đũa thần xả nầy mà gõ vào đâu thì việc ấy tự nhiên biến thành tam muội một cách dễ dàng hết cả. Dĩ nhiên hễ đã có xả thì có nhất tâm, một loại tập trung tâm trí không phải gắng gượng.

Để có được xả, cần phải thường xuyên luyện tập chỉ và quán. Chỉ làm cho tâm lắng xuống, lắng xuống để quan sát thật kỹ và thật rõ trạng thái sinh diệt cũng như bản chất vô ngã của mọi pháp, dù là pháp biến động hay pháp bất động. Hai yếu tố nầy vận hành biện chứng với nhau giúp cho hành giả chóng đạt được xả. Vì thế thiền định còn được định nghĩa là chỉ và quán.

Phân loại: Con người có nhiều trình độ và tâm bệnh khác nhau, nên phương pháp luyện tập chỉ quán nầy, cũng có nhiều loại khác nhau. Sau đây là những pháp quán thông dụng:- Quán niệm hơi thở: thiên về chỉ, đối trị bệnh tán loạn
– Quán bất tịnh: thiên về quán, đối trị lòng tham sắc dục
– Quán từ bi: để lắng sạch lòng hận thù
– Quán nhân duyên: Diệt trù mê muội
– Quán giới phân biệt: để đối trị chấp ngã

Các phép quán trên đây gọi là ngũ đình tâm quán. Ngoài ra còn có những phương pháp khác được liệt kê trong nhiều kinh điển Đại thừa như Tự tánh thiền của Kinh Trì Địa, Phan duyên chân như thiền, Như lai thiền của Kinh Lăng Già, phép Tam quán của kinh Viên Giác v.v… và những phép thiền quán đặc sắc của các thiền sư Trung Hoa gọi là Tham thoại đầu hay công án.

Tất cả đều cùng một mục đích duy nhất: Lắng sạch tâm tư để tuệ giác chiếu sáng, nhờ đó cắt đứt mọi gốc rễ tội lỗi đưa đến khổ đau, bao gồm trong ba thứ căn bản là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.

Đôi điều cần nói thêm ở đây. Một là tứ thiền và tứ định mà đã được mô tả trong các kinh điển Phật giáo, không thể và không nên liệt kê vào bảng xếp loại theo phương pháp. Chúng thực sự chỉ là những trạng thái thiền định mà một hành giả trải qua trong quá trình tu tập. Hai là, nếu nhìn nhận xả ly như là cốt lõi của định, thì bản thân trì giới cũng là một phương pháp thiền định.

Điều nầy cho thấy tại sao giới lại sanh định.

Tác dụng: Thiền định đưa đến cho người luyện tập những kết quả tốt đẹp sau đây:
a. Giới thể tự nhiên biểu hiện: Không cần phải gắng sức dụng công giữ giới, mọi hoạt động của người hành thiền, từ việc đi đứng nằm ngồi cho đến ăn nói… do công phu tu tập, vẫn toát ra vẻ uy nghi, khoan thai, khiêm tốn và hòa nhã. Da dẻ và các giác quan trở nên mịn sáng. Chúng là biểu hiện tự nhiện của một tâm hồn an tịnh.
b. Sống an lạc và tự chủ: Thoát khỏi sự trói buộc và hệ lụy nơi các tâm lý xấu xa như tham, sân… , thân và tâm trở nên nhẹ nhàng thoải mái, cuộc sống người hành thiền thường an trú trong trạng thái an lạc và tự chủ.
c. Chí nguyện vững bền: An trú trong bất động tâm, hành giả có một ý chí kiên cường bất
khuất, không vì trở ngại mà thay lòng, không vì quyền lợi, danh sắc mà đổi dạ.
d. Môi sinh hiền lành: Gột sạch các cấu uế sân hận, đố kỵ, tâm hồn người hành thiền thấm lên cảnh vật quanh mình dòng nước vô hại đầy từ ái thanh lương, tạo nên một môi trường sinh hoạt hài hòa, trong sáng và yên ổn.
e. Đưa đến tuệ giác cứu cánh: Khi đã an trú trong xả, chánh niệm tỉnh giác, tâm trở nên nhu nhuyến, ổn định vững chắc, dễ xử dụng, hành giả hướng tâm đến mục đích cuối cùng là thẩm xét thực trạng khổ đau cùng các nguyên nhân tập khởi của chúng. Đoạn trừ lòng ái trước nơi các cảm thọ nuôi dưỡng tham dục sắc và vô sắc, khiến vô minh tiêu diệt, minh khởi lên, tuệ giác luôn luôn bừng sáng.

3. TUỆ:

Nó được gọi dưới nhiều tên khác nhau, chánh trí, trí tuệ, bồ đề, tuệ giác, bát nhã, chân như…. Để chỉ một khả năng nhận thức có ba tác dụng:
– Liễu tri (Parinnata): Biết rõ sự vật .
– Thắng tri (Abhinnatha): Biết thấu đáo bản chất thật sự của sự vật, tức vô thường, khổ, vô ngã, và biết thấu đáo hành nghiệp của mỗi chúng sanh.
– Đoạn tận (Pahanatha): Chấm dứt được khổ đau nhờ đoạn tận mọi nguyên nhân tập khởi
của chúng.

Qua ba tác dụng ấy, ta dễ dàng nhận thấy sự khác biệt giữa nó với nhận thức thông thường là như thế nào. Nhận thức thông thường trong con người chỉ có tác dụng đầu, tức liễu tri sự vật, nó làm giàu ta bằng kiến thức, nhưng cũng làm khổ ta bởi chính những kiến thức ấy, một khi nó không tự liễu tri và thắng tri tức khắc chính mình, mà ngược lại tha hóa tự thân thành một thực tại khách quan bên ngoài để rồi chạy theo bám víu lấy những ảo giác ấy. Sự ngu xuẩn nầy lại gợi cho ta lý do tại sao tác dụng thắng tri là bàn đạp cần thiết cho đoạn tận, và cả hai tác dụng ấy, thắng tri và đoạn tận, nói chung là tuệ giác cần phải và chỉ có thể đạt được bằng con đường tu tập giới định, chứ không phải bằng việc thâu luợm kiến thức. Chính ý thức xả ly và chánh niệm tỉnh giác được chắc lọc từ giới và định là nhiên liệu thắp sáng ngọn đèn tuệ giác để diệt trừ bóng tối vô minh.

GIẢI ĐÁP CHO BÀI TOÁN KHỔ ĐAU, NIẾT BÀN VÀ CHÁNH TRÍ.

Những trình bày trên về giới định tuệ, đặc biệt là các tác dụng của chúng , cung cấp phần nào cho ta những dử kiện cơ bản để trả lời cho câu hỏi rằng liệu giới định tuệ có phải là đáp án duy nhất cho bài toán giải quyết tận gốc vấn đề chấm dứt đau khổ, đưa đến an lạc (niết bàn) và thành tựu chánh trí hay không? Qua những định nghĩa về tuệ, mối liên hệ giữa giới định tuệ với việc thành tựu chánh trí đã tương đối rõ ràng, không cần phải bàn cãi gì thêm. Chỉ có vấn đề đáng tiếc phải thắc mắc là, không lẽ khổ đau chỉ được chấm dứt bởi một phương pháp và chỉ bởi phương pháp nầy không thôi hay sao? Một cuộc sống an vui không khổ và đầy hiểu biết là mơ ước của con người trong mọi thời đại. Đức Phật cũng vì vấn đề nầy mà đã từ bỏ vợ đẹp con thơ, cung vàng điện ngọc, chịu băng ngàn vượt suối, lặn lội cầu thầy học đạo để tìm phương giải quyết.

Sau khi tự mình chứng tri, Ngài đã trở về xã hội để chỉ bày cho mọi người con đường đứng đắn và kỳ diệu vừa được tìm ra.. Con đường ấy, trong bài thuyết pháp đầu tiên tại vườn nai cho năm anh em ông Kiều Trần Như, Ngài đặt tên là Trung Đạo., và diễn giải nó thành Bát Thánh Đạo.

Con đường thánh thiện gồm tám yếu tố mà ta có thể tổng kết lại thành ba: Giới ( Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng), Định (Chánh niệm, Chánh tinh tấn, Chánh định), Tuệ (Chánh kiến, Chánh tư duy). Gọi là Trung Đạo với ý nghĩa, nó là con đường có khả năng đưa hành giả đi trên hướng ấy đến trúng mục tiêu mong muốn, không lệch lạc như hai con đường hưởng thụ dục lạc và ép xác khổ hạnh đang thịnh hành lúc ấy dưới sự cổ xúy của các học thuyết tôn giáo và triết học bấy giờ. Hơn hai nghìn ruỡi năm trôi qua, con đường ấy hầu như bị nhòe đi dưới sự lộng lẫy của những con đường cao tốc do khoa học xây dựng. Bắt đầu sự ra đời của máy hơi nước, khoa học kỹ thuật, qua từng đợt thay da đổi thịt, ngày càng cống hiến cho con người những công cụ và phương pháp tối ưu để giải quyết các vấn đề không chỉ giới hạn trong phạm vi hành tinh nầy mà còn tiếp cận cả vũ trụ nữa. Bất cứ cái gì cũng được biến thành khoa học với niềm tin rằng, kiến thức là chìa khóa giải quyết mọi vấn đề. Mặc cho ngài Einstein, một nhà bác học đầu đàn của thế kỷ 20 có nói gì thì nói. Rằng: “Phật giáo bắt đầu từ chổ khoa học chấm dứt” có lẽ chỉ là một nhận xét chủ quan của ông ta thôi, đã chắc gì có cơ sở khoa học! Chẳng phải khoa học đã cứu con người ra khỏi bóng tối bao trùm lên toàn bộ Âu châu trong suốt bao thế kỷ chỉ vì niềm tin vào thần học đó sao. Vậy thì có ích gì mà quay về lại tôn giáo?

Nhưng bốn thế kỷ là thời gian đủ dài để nhìn lại mình mà đánh giá. Dù khoa học, với vận tốc vũ trụ, vun vút phóng đi những bước thần kỳ trên các siêu xa lộ, nỗi khổ vẫn cứ bám riết lấy thân phận con người với bộ mặt tiền sử của nó, bức tranh không có gì thay đổi dưới lăng kính nầy.

Vẫn biển nước mắt, vẫn dòng máu mặn. Những tưởng rằng các lý thuyết khoa học về kinh tế, chính trị, xã hội, cùng các nền khoa học thực nghiệm và kỹ thuật khác, chúng ta sẽ xóa sạch hẳn những vết hằn khổ đau vì nghèo đói, bất công, chiến tranh, khủng bố… trên bản đồ văn minh nhân loại. Nhưng không, vết hằn vẫn còn đó như một chứng tích tội lỗi, ám ảnh và đè nặng lương tâm con người, thách thức khoa học, tại sao? Và Trung Đạo của Phật Giáo dựa trên cơ sở đúng đắn nào để giải quyết vấn đề?

Để trả lời câu hỏi nầy, phải tìm hiểu trước hết khổ đau thực sự là gì? Nó có muôn hình vạn trạng, khổ vì sinh lão bệnh tử, vì nghèo đói, vì thất tình, vì chiến tranh… nhưng tất cả sự đau khổ ấy đều có một mẫu số chung làm thành bản chất của nó. Mẫu số chung ấy là cảm thọ. Khổ là một cảm thọ, một thực tế được hình thành bởi nhân duyên và do thế cũng chỉ được chấn dứt theo luật nhân duyên. Quy luật của nhân duyên là cái nầy có thì cái kia có, cái nầy không thì cái kia không, cái nầy sinh thì cái kia sinh, cái nầy diệt thì cái kia diệt. Vậy thì cảm thọ đã được khởi lên, tồn tại và chấm dứt như thế nào? Khi có sự tiếp xúc giữa căn (giác quan) và cảnh (đối tượng) thì có cảm thọ khởi lên, hoặc sướng (lạc thọ), hoặc khổ (khổ thọ), hoặc lạt lẽo (bất khổ, bất lạc thọ). Chẳng hạn khi mắt thấy sắc, ta cảm thấy thích thú, bất mãn hoặc thờ ơ lãnh đạm.

Vấn đề là, lẽ ra khi sự tiếp xúc chấm dứt các cảm thọ ấy cũng phải diệt mất theo quy luật của nhân duyên. Nhưng trên thực tế những cảm thọ ấy vẫn còn tồn tại trong tâm hồn ta. Tại sao? Dù sự tiếp xúc đã qua nhưng lòng ái trước nơi các cảm thọ, thuận hay nghịch, đã là nguyên nhân làm cho ý căn bám riết lấy chúng, tạo ra tình trạng duy trì một sự tiếp xúc liên tục giữa ý căn và đối tượng của nó, mà bây giờ chính là cảm thọ, chính hiện tượng nầy đã nuôi dưỡng cảm thọ, và ngược lại cảm thọ được nuôi dưỡng đến lượt mình làm tăng nồng độ ái trước. Hiện tượng nầy được thấy rõ nét nhất nơi những kẻ nghiệm ngập ma túy. Khi cảm thọ và ái trước tăng trưởng, những khổ thọ nơi thân và tâm dĩ nhiên cũng tăng theo. Nếu hiểu rõ mối tương quan nầy, từ bỏ lòng ái trước nơi các cảm thọ, thì sự tiếp xúc trên bình diện ý căn không còn được nguồn nhiên liệu nào tiếp sức, sẽ tự lắng diệt, và một sự thật kỳ diệu khác từng bị che lấp hiện ra và tồn tại, đó là xả. Nói kỳ diệu bởi vì nó không phải là một hiện tượng do nhân duyên tập khởi, mà là pháp xả ly nhân duyên, vô vi an tịnh (muốn nắm rõ chi tiết, xin đọc Đại lục xứ kinh 534-538 và kinh Căn tu tập 551-558 sđd, Tu thư Vạn hạnh l975). Đến đây câu trả lời dứt khoát cho vấn đề cái gì giải quyết được tận gốc đau khổ đã quá rõ ràng.  Đau khổ cố nhiên là một cảm thọ. Nhưng sự ham thích nơi các lạc thọ và lãnh cảm đối với những cái bất khổ bất lạc thọ cũng làm cho tâm trở nên bất an khi các cảm thọ ấy không còn.

Điều nầy có nghĩa ái trước nơi cảm thọ đã làm cho mọi cảm thọ trở thành nỗi khổ. Và con đường Trung Đạo, tức giới định tuệ với chủ trương không hệ lụy nơi dục lạc hay khổ hạnh mà chỉ luôn luôn an trú nơi xả và chánh niệm tỉnh giác, mới là phương pháp đúng đắn duy nhất để giải thoát hết khổ đau. Những sản phẩm ngày càng hoàn hảo mà kiến thức khoa học cống hiến cho nhân loại, cộng thêm lối quảng cáo và giáo dục nhồi nhét vào đầu óc con người cái quan niệm hạnh phúc là được thỏa mãn thèm muốn những sản phẩn ấy, đã nuôi dưỡng và làm gia tăng nồng độ cảm thọ và ái trước. Dẫn đến hậu quả tất nhiên là những khổ thọ về thân và khổ thọ về tâm cũng càng tăng trưởng. Đó là lý do tại sao những ngành khoa học hiện nay đã không đạt đến mơ ước tối hậu của mình: xây dựng thiên đường hạnh phúc với kiến thức và vật liệu khoa học. Những cái nhìn lệnh lạc về vai trò của nó trong lịch sử văn minh nhân loại cần được đánh giá lại.

VỊ TRÍ MÔN HỌC GIỚI ĐỊNH TUỆ TRONG CUỘC SỐNG NGÀY NAY.

Với niềm tin tưởng tuyệt đối vào độ chính xác của những ngành khoa học lập cước trên sáu giác quan, người ta đã nghi ngờ và hạ bệ tất cả những gì không xác định được qua hệ thống nầy. Nạn nhân đầu tiên là các ông thần tôn giáo. Bản thân tôn giáo dưới con mắt khoa học cũng trở thành một khuôn mặt khả nghi, đầy những chuyện hoang đường về tội phước chỉ có thể gạt gẫm được những kẻ nhẹ dạ quê mùa thiếu học. Thay thế cho các ông thần tôn giáo, người ta suy tôn những vị thần mới, những lý thuyết khoa học về chánh trị, kinh tế, xã hội, giáo dục… để bảo đãm cơm no áo ấm, an ninh trật tự, đạo đức trí tuệ … cho mọi người. Nhưng rồi đến phiên Thượng đế trả thù. Những lý thuyết khoa học ấy không giải quyết những chuyện áo cơm trọn vẹn như đã hứa hẹn, thất nghiệp phổ biến dài dài. Thê thảm hơn nữa là,với sự sụp đổ các giá trị đạo đức do thánh thần cũ bảo trợ, những giá trị mới lại chưa có một cơ sở lý luận khoa học vững chắc nào chống đỡ, ngoài những khẩu hiệu cũ vay mượn từ tôn giáo, và những hứa hẹn suông về lợi ích kinh tế hai chiều, chúng không thể nào ngăn chặn đà lạm phát tội ác. Thực sự, một nền đạo đức học chỉ giáo dục bằng lời khuyên về thưởng phạt kinh tế thì cũng không khoa học gì hơn các nền đạo đức cũ. Có lẽ còn tệ hại hơn nữa là đằng khác. Bởi vì nếu có một lợi ích kinh tế lớn hơn sự chế tài đã quy định, người ta sẵn sàng vượt qua lằn cấm để phạm vào bất cứ một tội ác nào. Chứ còn cái phạt vô hình đời sau, một khi đã tin là có vẫn là một sức mạnh đáng kể làm chùn tay tín đồ tôn giáo trong những trọng tội. Chính việc thiếu mất một cơ sở lý luận khoa học cho nền đạo đức con người mới là nỗi khổ lớn nhất hiện nay cho nhân loại. Nó làm cho con tàu lịch sử mất hướng, không biết lấy gì làm kim chỉ nam để biết chắc chắn mình sẽ đi đến mục đích, hài hòa và nhất quán mọi hoạt động của mình cho mục đích nầy. Đi dưới ánh sáng của những lý thuyết khoa học thế kỷ 20, mà vẫn cứ ngờ ngợ như đang đi trong đêm đen khủng khiếp của thời Trung cổ.

Không biết đâu là chân lý chuẩn mực cho những hoạt động của mình. Thảm họa ấy đang xảy ra và thách thức nhân loại. Vì sợ nạn nhân mãn, chúng ta đang buộc phải nhân danh sự sống để tiêu diệt sự sống, oái ăm thay, buộc phải vận dụng các công cụ khoa học tinh xảo, những liều thuốc, những máy hút nạo thai để giết chết trong trứng nước những con cháu bất hạnh chưa có cơ hội mở mắt chào đời thấy nền văn minh tươi đẹp, để bảo đảm miếng cơm manh áo hiện nay của chúng ta, để bảo đảm hạnh phúc cá nhân của chúng ta. Chúng ta buộc lòng phải hợp pháp hóa chuyện nầy, dù rằng cũng chính chúng ta nhân danh tương lai nhân loại, đã thảo ra đủ thứ luật lệ bảo vệ quyền lợi trẻ em! Nhân quả đáo đầu, trong tương lai, lấy gì bảo đảm việc đàn con cháu chúng ta sẽ không nhân danh cuộc sống hạnh phúc của mình để tiêu diệt lớp cha mẹ già nua tật nguyền không có lợi ích gì về kinh tế? Thế mà chưa đủ trong khi phải vật lộn đối phó với nạn nhân mãn đang đè nặng lên thân phận hành tinh, chúng ta lại phung phí tiền của lẫn cả ý thức để kiến thiết cho mình một cuộc sống hưởng thụ vật chất, xem đó là mục đích cuộc đời. Việc chống nhân mãn song hành với việc kích thích khoái lạc, chỉ đẩy chúng ta vào những hành động tự mâu thuẫn với chính bản thân mình, tạo nên một khuôn mặt kỳ dị đầy bất an và giả dối. Đã đến lúc phải xét lại toàn bộ vấn đề. Kiến thức khoa học và những sản phẩm nó cống hiến không tội tình chi, thiện hay ác là do người xử dụng. Một chiếc hỏa tiễn có thể giúp nhà khoa học khám phá vũ trụ, mà cũng có thể trở thành một vật đáng sợ trong bàn tay bọn khủng bố. Một hệ thống chính trị có thể là tiền đề cho một xã hội cất cánh vươn lên thịnh vượng và văn minh, nhưng cũng dễ dàng trở thành công cụ áp bức khủng khiếp trong bàn tay những kẻ tham lam, độc đoán. Tất cả tùy nơi con người. Muốn đào tạo được những con người lương thiện và hiểu biết, cần phải có một khoa học đạo đức thực nghiệm thực sự, chứ không phải là một thứ nhồi nhét vào đầu óc con người những giới điều và mệnh lệnh đạo đức. Nền đạo đức ấy phải bảo đảm cho người thực hành nó thoát khỏi mọi tật xấu tác hại không những chính bản thân mình mà còn vạ lây người khác. Thứ nữa, nền đạo đức ấy phải phù hợp với sự thật nhân sinh vũ trụ để bảo đảm cho mọi ngành khoa học phát triển. Trung đạo với phương pháp thực nghiệm giới định tuệ, giúp con người vượt ra khỏi gọng kềm cảm thọ và nhận thức được tạo ra trong hệ thống sáu căn để làm chủ chúng, rõ ràng thỏa mãn hai yêu cầu cơ bản nầy. Chúng ta cần nghiên cứu nó cả về mặt lý thuyết lẫn phương pháp thực hành để xây dựng được một nền khoa học đạo đức thực nghiệm, làm chuẩn cho mọi hoạt động hiện nay, ngõ hầu kiến thiết một nền văn minh phù hợp với nội dung chân thiện mỹ, chứ không phải thứ văn minh tiêu thụ đầy mâu thuẩn và bất trắc chúng ta đang sống. Dân tộc ta, từ sau ngày sụp đổ chính quyền Hai Bà Trưng vào năm 43, trên bước đường đấu tranh giành lại độc lập đã vận dụng Trung đạo nầy để xây dựng một nền văn hóa mới vừa có khả năng bảo tồn được những thành quả tốt đẹp trong nền văn hóa truyền thống do Hùng Vương để lại, vừa có khả năng vô hiệu hóa đòn diệt chủng bằng văn hóa Chu Khổng của nhà Hán. Sau khi phục hồi độc lập, lại lấy nó làm hệ tư tưởng căn bản để đoàn kết dân tộc, xây dựng và bảo vệ thành công một xã hội nổi tiếng thuần từ, giàu mạnh và phát triển trên 300 năm. Aûnh hưởng của nó vẫn còn sâu đậm trong các triều đại kế tiếp. Những trang sử vẻ vang ấy là cơ sở thực tế chứng minh hiệu quả đáng tin cậy của Trung đạo trong việc kiến thiết một cuộc sống tốt đẹp cho con người về vật chất lẫn tinh thần, cá nhân lẫn xã hội.

Đối diện với những vấn đề của đất nước hôm nay, khi mở cửa ra giao lưu với tất cả các nền văn hóa khác trên thế giới, ngõ hầu làm bè bạn với tất cả các dân tộc, và đưa tổ quốc tiến nhanh lên phía trước, bắt kịp tầm phát triển của thời đại, chúng ta vừa đón những ngọn gió lành mà vừa hứng chịu những luồng gió độc. Đó là một điều không thể tránh khỏi. Nhưng điều ta có thể chủ động giải quyết, là làm thế nào để bụi bặm độc hại do những luồng gió ấy mang đến không hủy hoại cơ thể của mình. Rút tỉa bài học lịch sử của tổ tiên, nghiêm chỉnh nghiên cứu một cách khoa học lý thuyết cũng như phương pháp thực hành giới định tuệ của Trung đạo sẽ cho ta một đáp án thỏa đáng. Tác dụng ngăn chặn của giới, lọc sạch của định và hóa giải của tuệ sẽ cung cấp cho chúng ta không những chỉ khả năng miễn nhiễm đối với bất cứ một độc tố nào, mà còn bao dung tất cả sự sống. Đó là tài sản chung của mọi người chứ không riêng gì của một ai. Và từ xưa nó đã là một phần cốt lõi của nền tư tưởng và văn hóa Việt Nam

KẾT LUẬN:

Giá trị môn học Giới Định Tuệ lớn lao như thế, nhưng nếu không nghiêm túc thể hiện nó ra một cách đúng đắn ngay nơi bản thân mình thì chúng ta cũng không hưởng được một lợi ích cụ thể nào cả. Giống như có một con đường đưa đến cố đô Huế, nếu không đi trên ấy, không bao giờ chúng ta đến được cố đô ấy. Điều đó không phải vì không có cố đô Huế, không có con đường, mà chỉ vì ta không đi. Cũng thế, con đường Trung đạo Giới Định Tuệ dẫn đến Niết bàn và Chánh trí, nếu không tu tập ta không làm sao tiếp cận được chân lý ấy, điều đó không phải vì không có con đường, không có thực tế của chân lý mà vì ta đã không chịu thực sự tu tập. Việc tu tập đòi hỏi phải cẩn thận học hỏi thường xuyên, nhất là đối với thiền định, để chọn cho mình một phương pháp phù hợp. Phương pháp thiền định có rất nhiều loại, không ngang ngay sổ thẳng như giới. Do vì tâm ta cũng xiên xẹo lắm đường. Nhưng dù theo phương pháp nào đi nữa, thì cũng phải thường xuyên thành thật quan sát tâm mình xem thử những tham, sân , si, ngã mạn v.v… đã được lắng sạch hết chưa. Nếu chưa, dầu chỉ là một gợn mảy may thoáng lên trong thân khẩu ý, cũng phải hết sức cảnh tỉnh. Cẩn thận chớ buông lung, chớ chê bai việc người. Mỗi ngày, dầu bận mấy đi nữa cũng phải dành một ít thời giờ, ở chôû thanh vắng, dùng chánh niệm tỉnh giác mà an tịnh ba nghiệp nơi bản thân mình. Có như thế mới mong khỏi bị lệch đường.

Tỳ Kheo Thích Nguyên Giác

2 thoughts on “Thích Nguyên Giác: Bài 1: Giới-Ðịnh-Tuệ, Con Đường Thực Nghiệm Giải Thoát Và Tuệ Giác

  1. Pingback: Hòa thượng Thích Như Điển: Bài học 1: “Giới Định Tuệ” (mp3 audio) | Nhủ Nhau Tinh Tấn

  2. Pingback: Sổ Tay Tu Học – 1: Diệu Hạnh Hoàng Mai Ngân: Tóm lược bài giảng Giới Ðịnh Huệ | Nhủ Nhau Tinh Tấn

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s