Hòa thượng Thích Như Điển: Bài học 1: “Giới Định Tuệ” (video/audio)

Thich Nhu Dien

Hòa thượng Thích Như Ðiển (Ảnh: Quảng Pháp)

Bài học 1: “Giới Định Tuệ”

(Lớp Bậc Lực 1 Hải Ngoại)
do Hòa thượng Thích Như Điển hướng dẫn
tại Chùa Bảo Quang, Hamburg, Đức Quốc

Bài lý thuyết

Giới-Ðịnh-Tuệ

Hòa Thượng Thích Như Điển giảng ngày 27/5/2017
– Khóa Hàm Thụ Bậc Lực 1 Hải Ngoại

I – GIỚI

Trong 12 năm đầu sau khi đức Phật thành đạo, chưa có Giới. Từ năm 13 trở đi, đức Phật mới bắt đầu chế giới sau khi đã xảy ra một sự cố nào đó làm ảnh hưởng đến mục đích giác ngộ của đệ tử trong Tăng đoàn.

Phân loại:

  1. Giới tại gia: Ngũ giới, Bát giới, Thập giới (Thân – 3, Khẩu – 4, Ý – 3)
  2. Giới xuất gia
  3. Bồ Tát giới (dành cho tại gia và xuất gia)

Trong kinh Di Giáo, đức Phật trước khi sắp nhập Niết Bàn có dặn A-Nan: “Giới nào không phù hợp vớp phong thổ cũng như tập quán địa phương có thể thay đổi”. Các giới tại gia thường không thay đổi nhiều (6 giới trọng, 28 giới nhẹ).

Giữ giới sẽ sinh định, có định sẽ sinh tuệ.

II – ĐỊNH

Định là trạng thái an tịnh của Tâm. Những pháp Định thường thấy là “Ngũ đình tâm quán”.

  1. Quán niệm hơi thở
  2. Thiền Tứ niệm xứ
  3. Thiền Lâm Tế, Tào Động (Trung Hoa)
  4. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử (Việt Nam – vua Trần Nhân Tông)

Những mẩu chuyện về thiền định:

  1. Triều Trần Nhân Tông – Học đạo tùy duyên, hoàn cảnh, thời gian

“Cư Trần Lạc Đạo”
“Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,
Đói cứ ăn đi, mệt ngủ liền
Có của trong nhà thôi tìm kiếm (Phật tánh)
Đối cảnh vô tâm hỏi chi Thiền” (không khởi tâm, tâm rỗng rang) 

  1. Tuệ Trung Thượng Sĩ – anh ruột của Hưng Đạo Vương, Trần Quốc Tuấn

Một hôm, hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm mở tiệc trong cung điện. Trên bàn có cả thức ăn mặn và thức ăn chay. Tuệ Trung Thượng sĩ gắp thức ăn không phân biệt chay hay mặn. Hoàng thái hậu hỏi: “Anh tu Thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được ?” Ông cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh. Anh không cần thành Phật. Phật cũng không cần thành anh. Em không nghe các bậc cổ đức nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát đó sao?”

Sự giải thoát không bị ràng buộc bởi A và B, chỉ cần sự tu tập của tự thân. Nếu chúng ta đang đi trên con đường, trước sau gì rồi cũng đến.

  1. Làng Mai có câu: “There is no way to happiness, happiness is the way”, là không có con đường nào đi đến hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường. “There is no way to peace, peace is the way”, không có con đường nào đưa tới hòa bình cả, hòa bình chính là con đường. Giải thoát cũng vậy. Không có con đường nào đi đến giải thoát, giải thoát chính là con đường.Chúng ta tu học như thế nào để có được giải thoát, có được hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, mà đừng nghĩ rằng giải thoát là cái gì chỉ có thể đạt tới trong tương lai. Thực tập được cái gọi là Hiện Pháp Lạc Trú. Trong kinh Nykaya, Phật dạy “Quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng. Quá khứ đã đoạn tận, tương lai thì chưa đến. Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ quán chính là đây”.

Đức Phật cũng có lần hỏi A Nan:

“Có thấy đống củi không? Đáp: Có”
“Nếu đốt đi thì còn thấy củi không? Đáp: Không, chỉ còn tro”
“Củi có hình tướng không? Đáp: Có”
“Có hình tướng thì có bị vô thường chi phối không? Đáp: Có”
“Căn bản của vô thường là gì? Đáp: Là Khổ”
“Muốn dứt Khổ thì phải làm gì?”

Quán:

“Đây không phải là Tôi” (Me) (quán Nhân duyên)

“Đây không phải là Của Tôi” (My)

“Đây không phải là Bản Ngã của Tôi” (My self – I did it)

“Vậy bản ngã là gì?”

Đức Phật nói A Nan vỗ hai bàn tay vào nhau cho có âm thanh, xong Ngài hỏi: “Trước khi âm thanh đến, nó ở đâu và sau khi âm thanh lặng, nó đi về đâu? Đáp: “Ân thanh không từ đâu đến và không đi về đâu”.

Nhân duyên: thành hay bại luôn đến và đi.  Hãy học và thực hành! 

III – TUỆ

Đức Phật dạy Bát Chánh Đạo, Chánh niệm sinh định lực và sinh kiến giải. Thực hành Chánh Kiến là đã đạt được Quả dự lưu Tu Đà Hoàn.

Giới đối trị Tham (chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp)

Định đối trị Sân (chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định)

Tuệ đối trị Si (chánh kiến, chánh tư duy)

Phật hỏi Tu Xà Di khi mới 8 tuổi xuất gia làm tỳ kheo: “Ngươi từ đâu tới? ”, đáp “Ba cõi đều là nhà!”  Vậy: Trí tuệ từ đâu đến? Do Huân tập nhiều đời.

Tuệ có được do: Văn – Tư – Tu (Nghe – Suy nghiệm – Thực hành)

Giữ giới như siêng giặt quần áo, giặt thường xuyên thì áo thơm tho. Gần gũi bật thiện tri thức (như vào rừng trầm lâu ngày, người toát mùi thơm thay vì vào chợ cá, ắt hẳn lấm mùi tanh hôi)

IV – Câu hỏi từ học viên / Kết luận

  1. Trì giới sẽ sinh định, hành định sẽ sinh tuệ. Vậy nếu giữ giới không thôi có được không?

Phật dạy “tam hành” như đi xe cần có 4 bánh, đạt giai đoạn 1 rồi mới đạt giai đoạn 2.

Đi học muốn ra trường phải học đủ môn, không học tắt. Tu đừng tính tới tính lui!

  1. Giới – Định – Tuệ tương quan mật thiết với nhau, nhờ giới mà có định, nhờ định mà phát tuệ. Nhưng tương quan giữa chúng không phải chỉ có tính cách một chiều theo trình tự, mà còn có tính tương tác nữa: định càng ổn thì sức trì giới càng mạnh; tuệ càng sáng thì định càng chóng đạt và giới càng dễ giữ. Tuy nhiên đối với người mới bắt đầu đi trên lộ trình hướng đến giải thoát và giác ngộ mà Đức Phật chỉ dạy, thì thứ tự Giới Định Tuệ là một quá trình thiết yếu cần phải học tập. Bởi vì bản thân còn quen phóng túng, tâm tư lắm xao động, và ánh sáng tuệ giác còn quá tản mạn chưa đủ khả năng đốt cháy hết mọi chướng ngại. (HT Nguyên Giác)
  1. 6 giới trọng, 28 giới khinh

Đối chiếu hai bộ giới bản Phạm Võng và Ưu-Bà-Tắc Giới Kinh, chúng ta thấy có nhiều điểm khác biệt. Quan trọng nhất, Ưu-Bà-Tắc Giới Kinh (hay Tại Gia Bồ Tát Giới Kinh) là giới Bồ tát của riêng hàng Phật tử tại gia, còn Phạm Võng là giới Bồ tát chung cho cả hàng xuất gia lẫn tại gia (10 giới trọng, 48 giới khinh).

Sáu giới trọng (phạm tội nặng) là:

  1. Không được sát sanh.
  2. Không được trộm cắp.
  3. Không được tà dâm.
  4. Không được nói dối.
  5. Không được nói lỗi của người tại gia và xuất gia.
  6. Không được bán rượu.
  1. Giá trị môn học Giới Định Tuệ lớn lao như thế, nhưng nếu không nghiêm túc thể hiện nó ra một cách đúng đắn ngay nơi bản thân mình thì chúng ta cũng không hưởng được một lợi ích cụ thể nào cả. Giống như có một con đường đưa đến cố đô Huế, nếu không đi trên ấy, không bao giờ chúng ta đến được cố đô ấy. Cũng thế, con đường Trung đạo Giới Định Tuệ dẫn đến Niết bàn và Chánh trí, nếu không tu tập ta không làm sao tiếp cận được chân lý ấy. Việc tu tập đòi hỏi phải cẩn thận học hỏi thường xuyên, nhất là đối với thiền định, phải thường xuyên thành thật quan sát tâm mình xem thử những tham, sân , si, ngã mạn v.v… đã được lắng sạch hết chưa. Cẩn thận chớ buông lung, chớ chê bai việc người. Mỗi ngày, dầu bận mấy đi nữa cũng phải dành một ít thời giờ, ở chỗ thanh vắng, dùng chánh niệm tỉnh giác mà an tịnh ba nghiệp nơi bản thân mình. (HT Nguyên Giác)

Video

One thought on “Hòa thượng Thích Như Điển: Bài học 1: “Giới Định Tuệ” (video/audio)

  1. xin tán thán công đức người đã viết lại bài giảng của Hòa Thượng. XIn được chỉnh sửa 2 chỗ cho chuẩn xác hơn: Thiên LÂM TẾ, Tào Động (Trung Hoa)
    “Bạch Thế Tôn, ba cõi không nơi nào là nhà của con hết”

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s