Thích Nhuận Châu chuyển ngữ Việt văn: Bài 2: Kim Cang Tông Thông (Kỳ 1: Tựa và Về tác giả và các luận giải được dùng trong sách này)

Untitled-1

Thượng Tọa Thích Nhuận Châu (Ảnh: Nhuận Pháp)

 

NAM NHẠC SƠN TRƯƠNG KIM GIẢN
TĂNG PHỤNG NGHI THUẤN TRƯNG THIẾT ĐỀ

Thích Nhuận Châu chuyển ngữ Việt văn.
Hạ An cư-2006

Kinh Kim Cang Là bộ Kinh quan trọng của tư tưởng Đại thừa. Từ tư tưởng chủ đạo của Kinh nầy mà hình thành nên những tông phái như Trung quán, Duy thức, Tam luận tông. Những pháp môn tu tập như Thiền tông, Tịnh độ tông, Mật tông… đều rút tỉa những tư tưởng chính trong Kinh để hành trì nhằm nhận ra chân tâm, hàng phục vọng tâm và an trụ trong bản tâm. Và chính là qua Kinh nầy mà giáo lý Bát-nhã được nghiên cứu cũng như hành trì sâu rộng. Chúng ta biết được sự truyền thừa của kinh nầy qua việc ấn chứng từ Ngũ tổ Hoằng Nhẫn cho ngài Huệ Năng. Trước đó, từ Sơ tổ Bồ-đề Đạt-ma truyền cho ngài Huệ Khả, ngài truyền Kinh Lăng Già để làm tâm ấn. Nhưng từ Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Thiền tông đã khởi sắc và phát triển theo một chiều hướng mới để thích nghi với căn cơ và nền tảng văn hóa Trung Hoa, nên Ngài mới dùng Kinh Kim Cang để truyền thừa thay vì kinh Lăng-già. Từ đó, Kinh Kim Cang đã đóng một vai trò đặc biệt rất then chốt trong sự lan toả mạnh mẽ của Phật giáo cũng như Thiền tông Trung Hoa và sau đó lan rộng ra các nước Đông Nam Á.

Khi Thiền tông đã đưa Phật giáo Trung Hoa đến đỉnh cao nhất thì cũng là lúc Kinh Kim Cang được chú ý đến nhiều nhất của mọi giới, từ giới hành trì tu chứng cho đến giới trí thức học giả chuyên nghiên cứu Phật giáo. Trào lưu nầy đã đẩy mạnh việc phiên dịch Kinh Kim Cang đến chỗ hoàn chỉnh nhất với sáu bản dịch từ tiếng Sanskrit sang Hán văn. Và số bản dịch ấy, cho đến ngày nay vẫn không tăng thêm một bản nào được xem là có giá trị ngang tầm với 6 bản đó, đã chứng thực cho nhân định nầy.

Sáu bản dịch đó, được sắp xếp theo thời gian như sau:

1. Cưu-ma-la-thập (s: Kumārajīva): nhan đề Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật Kinh, được dịch đầu thế kỷ 5 (Đại Chính Tạng, tập 8).

2. Bồ-đề Lưu-chi (s: Bodhiruci): Nhan đề Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật Kinh. Dịch đầu thế kỷ 6–Niên hiệu Vĩnh Bình nguyên niên –508)

3. Chân Đế (s: Paramārtha; 499-569. Nhan đề Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật Kinh. Dịch vào giữa thế kỷ 6–

4. Cấp-đa, (s: Dharmagupta, (590-619), Hán dịch Pháp Mật). Tên kinh Kim Cang Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh. Dịch vào cuối thế kỷ 6

5. Huyền Tráng: Tên kinh Năng Đoạn Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, Dịch vào giữa thế kỷ 7.

6. Nghĩa Tịnh (635-713): Tên kinh Phật Thuyết Năng Đoạn Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh. Dịch vào đầu thế kỷ 8. Dịch từ Sanskrit sang tiếng Anh: Có 1 bản dịch: của Edward Conze, Luân đôn, 5 1957. Bản dịch Việt của Lệ Pháp.

Còn nhiều bản dịch tiếng Anh của nhiều tác giả khác, nhưng phần nhiều đều dịch từ bản tiếng Hán của ngài Cưu-ma-la-thập. Chỉ có bản của dịch của Edward Conze là dịch từ tiếng Sanskrit, có tính nguyên uỷ hơn, và tất nhiên được giới nghiên cứu căn cứ nhiều hơn.

Khi một bản Kinh đã có sự định hướng cũng như khơi động rất mạnh tận chiều sâu tâm thức con người như vậy, tất sẽ có các pháp môn tu tập hình thành từ Kinh Kim Cang, từ đó phải cần có những luận giải, chú thích, giảng luận về bộ kinh nầy để đáp ứng cho việc hành trì. Chính Lục tổ Huệ Năng, đương thời cũng đã dùng Kinh Kim Cang để giảng giải và sau nầy, môn đệ đã ghi chép lại thành một tập, nhan đề là Kinh Kim Cang Khẩu quyết.

Các bản luận giải tạm ghi nhận như sau:

Tiếng Sanskrit:
Bát thập kệ của Bồ-tát Di-lặc. Còn gọi Di-lặc Bồ-tát tụng.
Kim cang Bát-nhã Luận của Ngài Vô Trước.
Kim cang Bát-nhã Ba-la-mật-đa Kinh Luận của Ngài Thế Thân.
Kim cang Bát-nhã Ba-la-mật-đa Kinh Phá thủ tướng Bất hoại Giả danh Luận của ngài Công Đức Thi.

Tiếng Hán:
Kim cang kinh chú của ngài Tăng Triệu, đời Hậu Tần.
Kim cang Kinh nghĩa sớ của ngài Cát Tạng. Đời Tuỳ.
Kim cang Kinh sớ của ngài Trí Khải. Đời Tuỳ.
Kim cang kinh Chú sớ của ngài Huệ Tịnh. Đời Đường.
Kim cang Kinh Lược sớ, của ngài Trí Nghiễm, Đời Đường.
Kim cang kinh toản thuật, của ngài Khuy Cơ, Đời Đường.
Kim cang kinh giải nghĩa, Kim Cang Kinh Khẩu Quyết, của Lục tổ Huệ Năng, Đời Đường.
Kim cang Kinh Sớ luận Toản yếu, của ngài Khuê Phong Tông Mật, Đời Đường.
Kim cang Bát-nhã ba-la-mật kinh giảng kí, của ngài Ấn Thuận, thời cận đại. Về các luận giải từ tiếng Sanskrit, chúng ta thấy một điều đặc biệt là các nhà tạo luận đều là tị tổ của Du-già hành tông (Yogācāra), hay còn gọi là Duy thức hay Pháp tướng tông. Cho chúng ta thấy qua cái nhìn của các vị nầy, từ khởi thuỷ của nền học thuật và tư tưởng trên chính mảnh đất quê hương Ấn Độ, Kinh Kim Cang đã có một vai trò rất lớn trong Du-già hành tông. Nên chẳng ngạc nhiên gì khi ngài Huyền Trang đã có một bản dịch rất đắc sắc về kinh nầy. Và sau đó, môn đệ của ngài là Khuy Cơ cũng góp phần bằng một bản luận giải. Nhưng điều đáng chú ý là Khuy Cơ đã không dùng bản dịch của ngài Huyền Trang, thầy mình, mà lại dùng bản dịch của ngài Cưu-ma-la-thập để chú giải.

VỀ TÁC GIẢ VÀ CÁC LUẬN GIẢI
ĐƯỢC DÙNG TRONG SÁCH NẦY

Tăng Phụng Nghi là một Cư sĩ Phật giáo người Trung Quốc, sống vào đời Minh, quê ở Hành Châu (nay là huyện Hành Dương, tỉnh Hồ Nam), tự là Thuấn Trưng, hiệu Kim Giản. Làm quan đến chức Lễ Bộ Lang Trung.

Ông rất thông minh và hiếu học, chuộng lý học của Lục Tượng Sơn. Sau khi lui về quê ẩn cư, ông lập trường giảng dạy, môn đồ rất đông. Tình cờ gặp một vị tăng. Hai người tranh luận, trải ba ngày ông mới chịu khuất phục. Từ đó ông kính tin Phật pháp, giữ giới ăn chay, nghiên cứu kinh luận, nỗ lực tham cứu. Một hôm thấy mặt trăng lặn, mặt trời mọc, hoát nhiên đại ngộ, nghi ngại tiêu sạch, được ý chân thật của cả Nho và Phật. Sau đó viết sách, lập thuyết lưu truyền. Tác phẩm của ông gồm có: Thủ-lăngnghiêm Kinh Tông Thông, Lăng-già Kinh Tông Thông, Kim Cang Tông Thông Kinh.[1]

Tất cả ba tác phẩm của ông đề có tên là Tông thông. Ý nghĩa được trình bày qua bài Duyên khởi trong Thủ-lăng-nghiêm Kinh Tông Thông: Nhờ các vị Lão túc để làm rõ nghĩa kinh chứ chẳng phải tự nơi tôi, và lấy việc tỏ ngộ của chư tổ thiền tông để soi sáng kinh, chớ chẳng phải lấy văn tự kiến giải mà giảng. Bèn đặt tên là Tông thông. Tông thông cùng với thuyết thông, phải tự đắc bản tâm thì mới cùng với các bậc Lão túc mặc áo gặp nhau. [2]

Và Duyên khởi trong Kinh Kim Cang Tông Thông của ông:
Nói rằng (thiền) tông tức giáo, đó là lời nói hiển nhiên, lời nói không ngăn ngại, đều thuộc về sự giải thích rõ ràng. Nói giáo tức tông (thiền), là Như Lai thiền, Tổ sư thiền, tất cả đều được xếp cạnh nhau, đều gom về tiêu dung trong tự kỷ. Niêm hoa cùng với cử lên các câu kệ có gì khác nhau. Thấu rõ mỗi bên, cái thấy cái nghe có gì là khác nhau. Ở đây ắt tông thông tức là chìa khoá để mở bày ý kinh, thuyết thông tức là cánh cửa để thể nhập vào chứng ngộ.(Duyên khởi Kim Cang Tông Thông Kinh)

Như vậy là bản ý của Tông thông đã rõ ràng, như lời của ngài Vĩnh Gia Huyền Giác trong Chứng Đạo Ca:

Tông diệc thông thuyết diệc thông
宗亦通說亦通
Định huệ viên minh bất trệ không.
定慧圓明不滯空

Về Kinh văn, Tăng Phụng Nghi đã dựa vào bản dịch tiếng Hán của ngài Cưu-ma-lathập, có một vài đoạn, ông có đối chiếu thêm bản dịch của ngài Huyền Trang để làm rõ nghĩa hơn ý của kinh văn, đồng thời lấy đó làm chỗ y cứ cho phần chú giải của ông.

Nếu như ngài Cưu-ma-la-thập tự dịch theo ý mình, thì nghiệp quả sẽ thị hiện niềm tin ở cái lưỡi;[3] mà minh chủ vua Diêm-la thấy có linh nghiệm, nên ban chiếu bổ túc những thiếu sót khắc vào trong đá. Chúng sinh khi mạng chung, huệ mạng nhờ đó được tăng trưởng. Cho đến thấy sắc nghe tiếng, nên còn lưu lại bài kệ bốn câu: Như lộ diệc như điển. Lại càng thiếu sót ba duyên. Luận giải về bài kệ đã rõ ràng. Kinh văn làm sao lược bớt được. Lấy thêm bản dịch của Ngài Huyền Trang để hoàn bị thêm cho cái nhìn thấu đáo, dịch thêm phần bài kệ, và ghi chú thêm ở phần cuối. (Duyên khởi Kim Cang Tông Thông Kinh)

Về các luận giải dùng trong sách nầy, về các tác giả Ấn Độ, Tăng Phụng Nghi đã trích dẫn nhiều nhất là Bát thập kệ của Bồ- tát Di-lặc, còn gọi Di-lặc Bồ-tát tụng. Bản thứ hai là Kim cang Bát-nhã Ba-la-mật-đa Kinh Phá thủ tướng Bất hoại Giả danh Luận của ngài Công Đức Thi, do Sa-môn Địa-bà-ha-la 沙門地婆訶羅 dịch vào đời Đường.

Các luận giải của các Tăng sĩ Trung Hoa được Tăng Phụng Nghi dùng trong tập sách nầy là Lương Triều Phó Đại sĩ tụng Kim Cang Kinh. [4] Về tác giả nầy, có nhiều nét khá kỳ đặc xin ghi nhận vài điều như sau:

Phó Đại sĩ (497-569), tên là Phó Hấp. Còn gọi: Thiện Huệ Đại Sĩ, Ngư Hành Đại Sĩ, Song Lâm Đại Sĩ, Đông Dương Đại Sĩ, Ô Thương Cư sĩ.

Cư sĩ Trung Quốc sống vào đời Lương thuộc Nam Triều, người Ô Thương, Đông Dương (nay là huyện Nghĩa Ô, Chiết Giang), tự Huyền Phong, hiệu Thiện Huệ, cùng với Ngài Bảo Chí (Chí Công) được tôn xưng là hai vị Đại Sĩ đời Lương.

Khi chưa gặp đạo, ngài thường cùng người làng lưới cá, mỗi lần được cá thì đựng vào lồng tre, dìm sâu xuống nước và nói: “Con nào muốn đi thì đi, không muốn đi thì ở lại.” Người đời cho Ngài là ngu. Năm 16 tuổi, Ngài cưới con gái họ Lưu là Diệu Quang sanh hai con là Phổ Kiến, Phổ Thành. Năm 24 tuổi, lúc đang đánh cá ở sông Nghi, Ngài gặp được vị tăng Ấn Độ là Tung Đầu-đà ( có thuyết cho đó là ngài Đạt-ma) liền bỏ ngư cụ đi vào núi Tùng, huyện Ô Thương, kết am dưới cây song đào tu tập.

Đời Lương, năm 534, Ngài sai đệ tử là Phó Vãng dâng thư lên vua Vũ Đế hiến sách lược về ba điều lành thượng, trung, hạ. Tháng 12 nhuận, Vua mời Ngài vào cung, giảng kinh ở điện Trùng Vân. Vua đích thân đến nghe. Mọi người thấy Vua đến đều đứng dậy, chỉ mình Ngài ngồi im, quần thần gạn hỏi, Ngài nói: “Đất pháp nếu động thì tất cả chẳng an.” Việc nầy về sau được truyền tụng thành giai thoại trong Thiền lâm.

Năm 535, Ngài về núi Tùng, năm năm sau lại đến Chung Sơn, bàn luận chân đế với Vua ở điện Thọ Quang, làm kệ tụng trình Vua. Năm 540 có thuyết nói năm 539, Ngài xây cất điện Phật, tháp gạch 9 tầng giữa các cây song đào ở núi Tùng, tức chùa Song Lâm, ở tại đây Ngài biên chép hơn 1000 quyển kinh, luật.

Đời Trần, năm 569, Ngài nhóm đệ tử lại răn dạy xong, ngồi kiết-già thị tịch, thọ 73 tuổi. Đệ tử an táng trên đỉnh núi Song Lâm, hiệu là Di-lặc Hạ Sanh. Tác phẩm gồm có Tâm Vương Minh, Ngữ Lục 4 quyển, Hoàn Nguyên Thi.

Luận giải thứ hai của các Tăng sĩ Trung Hoa được Tăng Phụng Nghi dùng trong tập sách nầy là San định ký[5] của ngài Tử Tuyền. Ngài là một Cao Tăng Trung Quốc (965-1038), thuộc tông Hoa Nghiêm, sống vào đời Bắc Tống, người ở Tiền Đường, Hàng Châu (có thuyết nói là Gia Hưng, Tú Châu), Trung Quốc, họ Trịnh, hiệu Đông Bình, còn gọi là Trường Thuỷ Đại Sư.

Năm 9 tuổi, Sư thờ ngài Khế Tông chùa Phổ Huệ làm thầy, chuyên trì tụng Kinh Lăng Nghiêm. Năm 13 tuổi Sư thọ giới Cụ túc. Lúc đầu, Sư học giáo pháp Hoa Nghiêm nơi ngài Tú Châu Hồng Mẫn, sau tham yết ngài Lang Da Huệ Giác mà có tỉnh ngộ, ngài Huệ Giác bảo sư trở về quê mở mang giáo pháp Hoa Nghiêm. Sư trụ trì chùa Trường Thuỷ, lập giảng đường dạy Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm. Đồ chúng đến ngàn vị. Sư có công rất lớn trong việc chấn hưng lại tông Hoa Nghiêm đời Tống. Năm 1013, Hàn Lâm học sỹ Tiền Công Dị tâu vua ban cho Sư tử y đồng thời ban hiệu Trường Thuỷ Sớ Chủ Lăng Nghiêm Đại Sư.

Sư thị tịch năm 1038, thọ 74 tuổi.

Tác phẩm gồm có: Thủ-lăng-nghiêm Nghĩa Sớ Chú Kinh 20 quyển, Thủ-lăngnghiêm Kinh khoa 2 quyển, Kim Cang Bát Nhã Kinh Toản Yếu Khoa 1 quyển, Đại Thừa Khởi Tín Luận Bút Tước Ký 20 quyển.

Về bố cục trong sách nầy, đã dựa theo cách đề ra 27 mối nghi về tư tưởng Kinh Kim Cang từ trong Luận giải của Thế Thân nhan đề Kim cang Bát-nhã Ba-la-mật-đa Kinh Luận. Như Tăng Phụng Nghi trình bày trong phần duyên khởi:
Cùng theo đó là phụ dực của Bồ-tát Thế Thân, phân tích 27 mối nghi ắt phải đoạn sạch. Chủ yếu là phô bày pháp thể, phá trừ khái niệm, phàm đã có tướng đều cho là không. Thứ đến ý chỉ phá trừ các tướng lại càng vi tế, mà cái thấy như huyễn dần dần càng trở nên ẩn mật khi đã nhập vào trú địa. (Duyên khởi Kim Cang Tông Thông Kinh)

Sau mỗi đoạn, Tăng Phụng Nghi lại dùng những tắc công án, những niêm tụng của thiền sư, được trích trong các Ngữ lục quan trọng của Thiền tông. Về các tác phẩm nầy và các Thiền sư, chúng tôi có chú thích ở dưới để người đọc tiện theo dõi.

Về duyên khởi hình thành tập sách nầy của Tăng Phụng Nghi, ông có ghi rõ như sau:
Khoảnh khắc hữu duyên của tiên quân chợt hết, nên mỗi ngày đều tụng Kinh Kim Cang. Nhân nơi mộ thứ mà tham cứu, nên viết thành sách nầy. Mong mỏi được thấm nhuần sương móc, hầu mong được thấm nhuần hình hài khô lạnh, nương nơi Kim cang để gom chứa thể hình. (Duyên khởi Kim Cang Tông Thông Kinh)

Chúng tôi vẫn chưa rõ được tiên quân mà Tăng Phụng Nghi đề cập trong nầy là ai. Xin chờ sự bổ khuyết cho của các bậc thức giả.

Chúng tôi cũng chỉ theo dấu người xưa để làm cái việc chẳng xứng chút nào với công hạnh của các ngài. Chỉ mong mạo muội chuyển được ý các ngài qua chữ nghĩa. Chắc hẳn là các ngài sẽ có lắm phiền trách. Con xin cúi đầu nhận tội vì tài hèn sức mọn, không thể nào chuyển hết tâm nguyện của các ngài, xin các Ngài từ bi lượng thứ.

Trân trọng cầu thỉnh các bậc thức giả cùng người đọc bổ khuyết cho những điều còn bất toàn trong bản dịch nầy.

Thích Nhuận Châu
Tịnh Thất Từ Nghiêm Hạ An Cư, 2006.

(Xem tiếp kỳ 2: Chánh Văn)


[1] Theo: Hành Châu Phủ Chí.
[2] Bản dịch tiếng Việt của Nhẫn Tế Thiền sư (Thubten Osall Lama), chùa Tây Tạng Bình Dương. Năm 1997.
[3] Do phát nguyện của Cưu-ma-la-thập, nếu dịch kinh khế hợp ý Phật thì khi tịch, sau khi trà tì thì cái lưỡi của người vẫn còn nguyên vẹn.
[4] 梁朝傅大士頌金剛經 No. 2732 [cf. No. 235]
[5] 宋 嘉禾長水法師 子璿 金剛刊定記

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s