Thích Nhuận Châu chuyển ngữ Việt văn: Bài 2: Kim Cang Tông Thông (Kỳ 2: Chánh Văn: Kinh Kim Cang Bát-Nhã-Ba-La-Mật Ða Kinh Tông Thông – Kinh văn 1)

Buddah-Pix09-1200x800.jpg

Thông rằng:
Nhan đề của Kinh nầy là Bát-nhã ba-lamật. Bát-nhã là đệ nhất trong các Ba-lamật. Các Đức Như Lai vì những người phát tâm Đại thừa, vì những người phát tâm tối thượng thừa mà giảng nói kinh nầy, nên chẳng thể đem trí huệ tầm thường mà luận bàn được. Vả lại Tu-bồ-đề tán thán Như Lai khéo hộ niệm các Bồ-tát, khéo phó chúc cho hàng Bồ-tát, vì chỉ trong giai vị Bồ-tát mới chân thực phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác (A-nậu-đa la Tam-miệu tam-bồ-đề). Hộ niệm các Bồ-tát là để thể hiện tâm thường trú; phú chúc là để thuận tiện trong việc độ thoát chúng sinh. Cần phải có trí huệ vi diệu để hàng phục được tâm, mới mong chứng được Vô thượng bồ-đề của Như Lai, nên Đức Phật mới nói Kinh Kim cang Bát-nhã cho hàng Bồ-tát. Do hàng Bồ-tát khi tu tập đến tư lương vị, gia hạnh vị, đã chứng tam không, được vô sanh pháp nhẫn; đến thông đạt vị, tức hàng sơ địa Bồ-tát, chứng được từng phần chân như mà vẫn còn câu sanh ngã chấp; Bồ-tát đến hàng bát địa, đã xả bỏ tàng (thức), vẫn còn câu sanh pháp chấp. Hai thứ chấp nầy (ngã chấp, pháp chấp), mỗi thứ đều có sở tri ngu vi tế. Trong pháp chấp vẫn còn cái sở tri ngu rất vi tế nầy, đến Đẳng giác mới đoạn sạch được. Để dứt trừ được nó, chỉ có Kim cang như huyễn tam-muội thậm thâm mới đủ để gọi là pháp đối trị. Lên đến sơ địa, nhị địa lại phá trừ tiếp. Đạt đến nhị địa, tam địa phá trừ tiếp. Càng tiến dần lên các địa, đến giai vị Đẳng giác mới không còn gì để phá nữa. Nên nói: Kim cang đạo hậu dị thục không (đạt được giai vị Kim cang đạo rồi mới chín muồi các ý niệm về không nầy) là do nghĩa trên.

Lại nữa, trong 10 dụ thâm diệu của Kim cang, khi nói như huyễn như mộng, đến như sương móc, như điển chớp…, trong bài kệ cuối bản kinh, nhân đó, ngay nơi báo thân, hoá thân, pháp thân, vẫn còn lấy huyễn mộng làm đối tượng quán sát, chẳng phải do trí thức sâu sắc mà quán sát được như vậy! Do điều nầy mà Tu-bồ-đề cảm động rơi nước mắt, mừng vì nghe được điều chưa từng nghe.

San định ký nói rằng: Kim cang là chày báu của vua trời Đế thích,[6] có đầy đủ hai nghĩa, rất cứng và rất bén. Nghĩa rất cứng là sao? Là không có vật nào có thể phá hoại nó được. Sao gọi là rất bén? Vì nó có thể đập nát các vật khác. Nếu còn có một vật phá hoại được nó, thì đó không phải là vật rất cứng; nếu còn có một vật mà chày báu nầy không thể đập nát ra được; thì đó không phải là vật rất bén. Như sắt và bạc tuy là (kim loại) cứng, nhưng khi gặp lửa có thể chảy tan; đao kiếm tuy bén, chặt đá ắt phải mẻ, nên chẳng phải là nghĩa rất bén.

Bát-nhã[7] có hai nghĩa: thật tướng Bát-nhã và quán chiếu Bát-nhã, là có đủ nghĩa rất cứng và rất bén. Cứng là thật tướng Bát-nhã, dù có trải qua nhiều kiếp thăng trầm trong lục đạo, mà giác tánh vẫn không mất, chưa từng sinh diệt, chưa từng tổn giảm, nên gọi là cứng chắc. Sắc bén tức là quán chiếu Bát-nhã, nghĩa là khi trí huệ nầy hiện tiền, liền hiển bày rõ pháp không; các kiết sử phiền não, vô minh mê mờ không có thứ gì không bị phá hoại, nên gọi là sắc bén. Do hai nghĩa nầy giống như tính chất của Kim cang, nên lấy tính cứng chắc của Kim cang để dụ cho thể của Bátnhã, lấy tính sắc bén của Kim cang để dụ cho dụng của Bát-nhã, dụ về pháp có tính chiếu diệu viên mãn. Nên gọi là Kim cang Bát-nhã.

Ba-la-mật-đa[8] là tiếng Sanskrit. Hán dịch là đáo bỉ ngạn, tức đến bờ giải thoát. Có nghĩa là rời khỏi bờ sinh tử bên nầy của chúng sinh, đưa chúng sinh từ giữa dòng sông lớn phiền não, đến bờ giải thoát niết bàn của chư Phật ở bờ bên kia. Nhưng nhận ra được sinh tử vốn không, phiền não vốn chẳng có, tức là đến được bờ bên kia, chẳng phải thật có khác nhau bên nầy (thử) và bên kia (bỉ), riêng đến bờ bên kia chẳng phải không có sự nhanh chậm đó sao! Nhanh có nghĩa là khi huệ vừa phát khởi, thấy năm uẩn đều là không, chỉ trong một sát-na, liền đến bờ bên kia. Do không cần phải trải qua nhiều thời gian, nên gọi là đốn. Tiệm là tuy có thể thấy ngay pháp không, nhưng vẫn còn nhiều tập khí trong nhiều đời, nhiệm vận vẫn còn nhiều trong chấp trước, nên không được tương ưng trong mỗi niệm, nên cần phải nghe và học theo chánh pháp, tư duy nghĩa lý, thúc dục trí huệ vừa mới phát ấy, giác sát vọng tình, trừ sạch nhiều lần, cho đến khi không còn
nữa, thế mới rốt ráo đến bờ bên kia. Do phải trải qua nhiều thời gian, nên gọi là tiệm. Nhanh chậm có khác nhau, đều có nghĩa là trí huệ để đến bờ giải thoát.

Tu-đa-la là tiếng Sanskrit. Hán dịch nghĩa là Khế kinh. Có nghĩa là khế lý và khế cơ. Khế lý nghĩa là nói sự phải đúng như sự, nói lý phải đúng như lý. Khế cơ là khiến cho người nghe hiểu được và thâm nhập, hoan hỷ tin nhận và hành trì. Kinh có nghĩa là quán (xuyên suốt) và gom giữ (nhiếp). Giáo nghĩa thông suốt, đáp ứng cho mọi người nghe, gom chứa đựng những điều giáo hoá mọi căn cơ chúng sinh. Để sau khi Đức Phật diệt độ hơn 2000 năm, mọi chúng sinh đều được nghe chánh pháp, đều là lực nhiếp trì thông suốt. Thiên Trúc (Ấn Độ) có Bồ-tát Vô Trước,[9] ngài nhập Hoả quang tam-muội, lên cung trời Đâu-suất, học đạo với ngài Di-lặc Bồ-tát.[10] Ngài Di-lặc Bồ-tát giảng cho ngài Vô Trước nghe 80 bài kệ để hiển bày ý chỉ của kinh. Ngài Vô Trước đem những bài kệ nầy truyền cho người em ruột mình là Bồ-tát Thế Thân.[11] Ngài Thế Thân theo những bài kệ này tạo thành bộ luận gồm ba quyển, giản ước, gạn trừ các mối nghi ngờ và chấp trước, để giải thích nghĩa chính của Kinh Kim Cang. Kẻ học giải nếu bỏ qua điều nầy không đạt chỗ thấu đáo, ắt đó là tà thuyết. Tôi (TPN) nhân có được bản luận giải của ngài Công Đức Thi Bồ-tát tạo, tham khảo thêm ở bản San định ký của ngài Tử Tuyền,[12] gạn lọc những lời dạy theo cơ duyên của các bậc lão túc rồi tập hợp lại, đặt tên là Tông thông.

Có vị tăng hỏi Thiền sư Trí Môn:[13] Thế nào là thể của Bát-nhã?

Trí Môn đáp: Con trai (bạng) nuốt trọn trời đất.

Tăng lại hỏi: Thể nào là dụng của Bát-nhã?

Trí Môn đáp: Thỏ mẹ mang thai.

Tuyết Đậu[14] có lời tụng:
Nhất phiến hư ngưng tuyệt vị tình
Nhân thiên tùng thử kiến Không Sinh
Bạng hàm huyền thố thâm thâm ý
Tằng dữ thiền gia tác chiến tranh.[15]

Tạm dịch:
Một phiến rỗng rang bặt nghĩ bàn
Người, trời từ đó thấy Không Sanh (Tu bồ-đề)
Trai ngậm, thỏ huyền thâm ý tuyệt
Từng với thiền gia dậy chiến tranh.

Viên thành thật tánh của Pháp Nhãn có lời tụng rằng:
Lý cực vong tình vị
Như hà đắc dụ tề
Đáo đầu sương dạ nguyệt
Nhậm vận lạc tiền khê
Qủa thục kiêm viên trọng
Sơn diêu tợ lộ mê
Cử đầu tàn chiếu tại
Nguyên thị trú cư tây.

Tạm dịch:
Cùng lý sạch thức tình
Làm sao ví von được
Quay đầu sương trăng lạnh
Nhậm vận lối khe trong
Quả chín vượn mừng giữ
Núi xa tợ đường mê
Ngẩng đầu trăng đã lặn
Vốn vẫn ở trời Tây.

Học giả nên tham cứu thấu đạt những lời nói nầy, mới biết được chỗ thân thiết của Bát-nhã. Đừng mất công tranh luận vô ích!

CHÁNH VĂN

Kinh văn (1):

如是我聞。一時佛在舍衛國祇樹給孤獨園。與大比丘眾千二百五十人俱。爾時世尊食時,著衣持鉢,入舍衛大城乞食。於其城中次第乞已。還至本處飯食訖。收衣鉢洗足已敷座而坐。

Như thật tôi nghe, một thuở nọ Đức Phật ở thành Xá-vệ, vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc, cùng chúng đại tỷ-khưu một ngàn hai trăm năm mươi người đến dự. Lúc ấy đến giờ thọ trai, Đức Thế Tôn đắp y, mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Trong thành, các vị tỷ-khưu khất thực theo thứ tự rồi trở về tinh xá. Thọ trai xong, các vị thu dọn y bát, rửa chân, trải tòa ra ngồi.

Thông rằng:
Bộ Kinh Bát-nhã nầy tất cả gồm 600 quyển, gồm 16 hội giảng kinh ở 4 nơi. Một là ở núi Linh Thứu thành Vương xá, gồm 7 hội. Hai là ở vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc, gồm 7 hội. Ba là tại Điện Ma-ni Bảo tạng thuộc Tha hoá thiên cung gồm 1 hội. Bốn là tại vườn Trúc lâm, hồ Bạch lộ, thành Vương xá, gồm 1 hội. Tiếp đến có 9 hội phóng quang. Những ai thấy được hào quang nầy đều chứng được A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Hào quang nầy tức trí tuệ quang minh. Đức Phật nói kinh nầy là điều thậm thâm vi diệu, sao không phóng quang? Đức Phật vì thể hiện trí huệ bình đẳng, nghĩa là hằng phóng quang
trong thể tánh bình đẳng mà chúng sinh không biết.

Lúc ấy đến giờ thọ trai, đức Thế Tôn đắp y, mang bát: tức là Thế tôn phóng quang từ tay của ngài.

Vào thành Xá-vệ khất thực: tức là Thế tôn phóng quang từ chân của ngài.

Trong thành, các vị tỳ-kheo khất thực theo thứ tự:  tức là Thế tôn phóng quang từ mắt
của ngài.

Trở về tinh xá thọ trai: tức là Thế tôn phóng quang từ miệng của ngài.

Thu dọn y bát, rửa chân, trải tòa ra ngồi: tức là Thế tôn phóng quang từ toàn thân của ngài.

Lại nữa, kinh nầy nhằm để hộ niệm và phó chúc cho hàng Bồ-tát, nên nói về pháp môn lục độ vô tướng. Khất thực là để dạy cho chúng sinh pháp bố thí. Đắp y, mang bát là dạy cho chúng sinh pháp trì giới. Khất thực theo thứ tự là để làm sáng tỏ hạnh nhẫn nhục. Chân không dính bụi trần mà lại rửa chân là để hiển bày hạnh tinh tấn. Trở về bổn xứ trải toà ra ngồi là để chỉ bày pháp thiền định. Ở Kỳ viên rồi vào thành khất thực, trong thành khất thực rồi trở về bổn xứ. Nhất nhất đều không trụ nơi tướng, tất cả đều hiển hiện từ Bát-nhã thậm thâm.

Nếu có bậc thượng căn lợi trí, nhận ra được Thế tôn phóng quang như vậy, tức vị ấy có được Kim cang tam-muội như huyễn để đến bờ bên kia (ba-la-mật), thì còn nương vào đâu để khai thị nữa đây!

San định ký nói rằng: Phần tự gồm có 2 phần, một là Chứng tín tự, hai là Phát khởi tự. Bắt đầu từ Như thật tôi nghe cho đến một ngàn hai trăm năm mươi vị, là phần Chứng tín tự,16] có nghĩa là nói rõ nơi chốn và thời gian giảng kinh, mỗi mỗi đều rõ ràng, để chứng thật chứ không hư dối. Một thuở nọ tức là lúc Như Lai giảng pháp, đại chúng lắng nghe. Đức Phật, là chủ của hội giảng kinh. Rừng cây là nơi Thái tử Kỳ-đà đã cúng dường, vườn do trưởng giả Cấp Cô Độc mua lại, là địa điểm diễn ra pháp hội giảng kinh. Cùng chúng đại tỷ-khưu, là đại chúng dự nghe giảng pháp. Đến dự, cùng nghĩa với nhất thời, nhất xứ ở trên. Dùng những lời dẫn nhập như vậy để mở đầu cho kinh văn. Do sau khi Như Lai diệt độ, ngài A-nan hỏi Đức Phật rằng khi mở đầu các bộ kinh nên ghi như thế nào? Đức Phật đáp: Nên dùng câu Như thị ngã văn nhất thời (Như thật tôi nghe, một thuở nọ),[17] Phật tại xứ đó, cùng chừng đó số chúng, chẳng phải chỉ riêng giáo pháp của Như Lai giảng nói mới như vậy, mà chư Phật trong ba đời cũng giảng nói pháp như vậy. Nên ngài A-nan tuân theo lời dạy của Đức Phật, dùng lời dẫn nhập như vậy để mở đầu cho kinh văn, chứng tỏ những gì A-nan truyền lại không phải là tà thuyết ngoại đạo.

Từ đoạn Lúc ấy đến giờ đến trải tòa ra ngồi, là nhập định. Giới giúp cho định trưởng dưỡng, định khiến cho huệ được phát; do giới và định mà phát khởi Bát-nhã chính tông. Lúc ấy đến giờ thọ trai (thực thời), từ giờ dần đến giờ mão[18] là chư thiên thọ thực; giờ tị, ngọ, mùi là loài người thọ thực; giờ thân, dậu, tuất, quỷ thần thọ thực; giờ hợi, tí, sửu, giờ súc sinh ăn. Nay đang đến giờ của loài người dùng cơm, việc khất thực không khó. Nếu phi thời mà khất thực, muốn bố thí cũng không có. Không bố thí được sẽ sinh lòng hổ thẹn, khiến tâm phiền não; khất thực mà không có, mất thời gian lại bị đói, tự mình sinh phiền não. Đắp y: đắp đại y 25 điều. Mang bát: mang bình bát thời xưa khi khi Thế tôn thành đạo, Tứ thiên vương dâng cúng bình bát bằng ngọc lưu ly. Tuy nhiên, việc đắp y, mang bát là để lìa xa hai hai cực đoan khổ và vui. Giới tại gia thích áo quần lụa là bằng thứ sang quý, chỉ làm thêm lớn tâm phóng dật và rơi vào cực đoan hưởng lạc. Giới xuất gia theo ngoại đạo, chủ trương khổ hạnh ép xác, lại rơi vào cực đoan khổ hạnh. Đức Phật hành xử theo trung đạo, nên đắp y, mang bát.

Thành Xá-vệ (Śrāvastī), Hán dịch là Văn vật, có nghĩa là trong thành nhiều người có tài đức và danh tiếng, có nhiều vật quý hiếm. Đại Đường Tây vức ký[19] có ghi: Thành nầy chu vi hơn 60 dặm (lý), trong thành rộng 20 dặm, nên gọi là thành lớn.” Trí độ luận ghi: Gia cư gồm 9 ức, nên gọi là người đông. Đức Phật khi vào đại thành Xá-vệ khất thực, không bỏ qua nhà nghèo để đến nhà giàu, không bỏ qua người bần tiện để đến người giàu sang, mà với tâm đại từ bình đẳng, không có sự lựa chọn. Trở về tịnh xá là việc hoá duyên đã xong, trở về vườn Kỳ hoàn. Thọ trai, là Đức Phật muốn cho những người bố thí đạt được đầy đủ phước báo. Có thuyết nói rằng thức ăn vừa vào miệng, có Đại oai đức thiên ẩn hình đứng một bên, tiếp lấy rồi đưa đến bố thí cho các nơi khác để làm Phật sự, ở đây chỉ là thị hiện có tướng ăn, chứ không phải là thực có việc ăn. Thu dọn y bát, tức dừng bặt mọi phan duyên, tâm không còn lao lự nữa. Rửa chân, là thanh tịnh thân nghiệp, không nhiễm trần luỵ. Hai việc nầy đều là phép tắc cho đời sau. Nên đó cũng là sự thị hiện. Trải tòa ra ngồi, tự trải toạ cụ, ngồi kiết già, thân trang nghiêm an trụ, chánh niệm không lay động, thị hiện tướng sắp thuyết pháp.

Trong mỗi pháp hội Như Lai giảng Kinh Bát-nhã, ngài đều tự mình trải toà ra ngồi. Vì Bát-nhã là nơi xuất sinh chư Phật, tức là mẹ của chư Phật, để biểu hiện lòng tôn kính Bát-nhã, nên ngài tự trải toà ra. Trí Giả Đại sư tụng rằng:
Pháp thân bổn phi thực,
Ứng hoá diệc như nhiên
Vi trưởng nhân thiên phước,
Từ bi tác phước điền
Thâu y tức lao lự
Tẩy túc ly trần duyên
Dục chứng tam không lý
Già phu thị nhập thiền.

Tạm dịch:
Pháp thân vốn không ăn
Ứng hoá cũng như nhiên
Để lớn phước trời người
Từ bi làm ruộng phước
Thâu y, dừng lao lự
Rửa chân, lìa duyên trần
Muốn chứng lý tam không
Ngồi kiết già toạ thiền.

Ngày xưa Thiền sư Long Đàm Sùng Tín[20] hỏi ngài Thiên Hoàng: “Con từ khi đến đây, không được nghe Thầy chỉ dạy tâm yếu.” Ngài Thiên Hoàng đáp: “Từ khi con đến đây, ta chưa từng có việc không chỉ dạy tâm yếu cho con.” Sùng Tín hỏi: “Thưa, thầy chỉ dạy chỗ nào?” Thiên Hoàng đáp: “Con dâng trà, ta tiếp lấy. con đem cơm đến, ta ăn; Khi con xướng lời hoà nam, ta liền cúi đầu lễ bái. Có lúc nào ta không từng chỉ dạy tâm yếu cho con?”

Sùng Tín cúi đầu im lặng hồi lâu. Thiên Hoàng nói: “Thấy thì ngay dưới lời nói là nhận ra liền, do dự liền sai.” Sùng Tín ngay đó nhận ra, sau đó hỏi: “Làm sao để bảo nhậm?” Thiên Hoàng đáp: “Mặc tình tiêu dao, tuỳ duyên phóng dật, chỉ cần sạch phàm tâm, chẳng cần thánh giải.”

Về sau Sùng Tín dừng trụ ở Long Đàm, có Thứ sử Lý Cao21[21] đến hỏi: Thế nào là chân như Bát-nhã?

Sùng Tín đáp: Ta không có chân như Bát nhã.

Lý Cao nói: Thật may mắn được gặp Hoà thượng. Sùng Tín nói: Cái đó vẫn còn là lời nói bên ngoài.

Lại có vị tăng hỏi ngài Triệu Châu: Học tăng vừa mới nhập tùng lâm, thỉnh sư cho lời chỉ thị.

Triệu Châu đáp: Ăn cháo chưa?

Tăng đáp: Ăn rồi!

Triệu Châu nói: Rửa bát đi! Vị tăng nhân đó khế ngộ. Thiên Đồng có bài tụng:
Chúc bãi linh giáo tẩy bát vu
Hoát nhiên tâm địa tự tương phù
Nhi kim tham bão tùng lâm khách
Thả đạo kỳ gian hữu ngộ vô.

Tạm dịch:
Ăn xong liền dạy rửa bát ngay
Bỗng nhiên tâm địa tự hợp nhau
Đến tham tòng lâm đà thoả mãn
Nói rằng giữa đó ngộ có, không.

Từ hai chuyện nầy mà quán sát, ắt thấy được rằng Như Lai tự mình đắp y mang bát cho đến trải toà ngồi, là để nói về cảnh giới chân như Bát-nhã, chứ chẳng nói chuyện gì khác.

(Còn tiếp)

 


[6] Đế Thích (s: Śakra Devānām-indra): Dịch âm là Thích-đề-hoàn-nhân-đà-la釋迦提桓因陀羅. Gọi tắt là Thích-đề-hoàn-nhân釋提桓因、Thích-ca-đề-bà釋迦提婆. Còn gọi là Thiên Đế thích 天帝釋, Thiên chủ 天主. Còn có các tên gọi khác là Nhân-đà-la 因陀羅, Kiều-thi-ca 憍尸迦, Ta-bà-bà 娑婆婆, Thiên nhãn 千眼. Là vua cõi trời Đao lợi, một trong 12 vị trời thủ hộ Phật pháp, trấn giữ phương Đông. Vị trời này ở tại thành Thiện Kiến trên núi Tu-di. Vốn là vị thần của Ấn Độ giáo. Nguyên Đế thích là một người Bà-la-môn của nước Ma-già-đà 摩伽陀, do tu các hạnh bố thí v.v… mà được sinh lên cõi trời Đao-lợi và làm thiên chủ cung trời này. Hình tượng Đế thích là hình cỡi voi trắng, tay phải cầm chày tam cổ, tay trái đặt trên thắt lưng. Trong Kim cương thai tạng giới của Mật giáo còn có các hình tượng Đế thích tạc theo hình các thần vương.
[7] Prajñā do động từ căn jñā, có nghĩa là nhận thức, hiểu biết, liễu tri. Prajñā, Hán chuyển âm là Bát-nhã (ban nhược), dịch nghĩa là trí tuệ hoặc tuệ minh. Trí tuệ có khả năng soi chiếu để thấy rõ căn nguyên của sự vật. Prajñā cũng được dịch là không trí hoặc không tuệ.
[8] Pāramitā: Pāram có nghĩa là ở ngoài, ra ngoài, ở một bên bờ, ở thế giới bên kia. Ita có nghĩa là đã qua rồi, đã đến rồi. Còn dịch là cứu cánh hoặc viên mãn. Vậy, Pāramitā là đã vượt ra khỏi và đã đến nơi. Đã siêu việt thế gian, siêu việt vọng tưởng và đã đến nơi an tịnh, viên mãn của niết-bàn vô dư y. Hán chuyển âm Pāramitā là Ba-la-mật và dịch là “độ khứ”– tức là đã vượt qua, hoặc “đáo bỉ ngạn” là đến bờ bên kia.
[9] Vô Trước 無 著; S: Asaṅga; dịch âm là A-tăng-già (阿 僧 伽), dịch nghĩa là Vô Trước, nghĩa là không bị ô nhiễm, cấu uế, vướng mắc; ~ tk. 4; Theo thuyết của Cao tăng Tây Tạng Tā-rā-nā-tha (t: kun-dgaḥ sñyin-po), Sư đến nhiều vùng tại Ấn Ðộ và xiển dương giáo lí Ðại thừa Duy thức, thành lập khoảng 25 tu viện. Thời gian hoằng hoá của Sư được xem là nằm trong thế kỉ thứ tư, đặc biệt là trong những vùng Tây Bắc Ấn Ðộ, bây giờ thuộc vềPakistan.
[10] Di-lặc彌 勒; S: maitreya, P : metteyya; dịch nghĩa là Từ Thị (慈 氏), cũng có tên là Vô Năng Thắng (無 能 勝; s, p: ajita), hoặc theo âm Hán Việt là A-dật-đa;
Một vị Ðại Bồ-tát và cũng là vị Phật thứ năm và cuối cùng sẽ xuất hiện trên trái đất. Trong Phật giáo Tây Tạng, Phật Di-lặc được thờ cúng rất rộng rãi. Cõi giáo hoá của Ngài hiện nay là trời Ðâu suất (s: tuṣita). Theo truyền thuyết, Phật Di-lặc sẽ giáng sinh trong khoảng 30.000 năm nữa.
Tranh tượng hay vẽ Ngài ngồi trên mặt đất, biểu tượng sẵn sàng đứng dậy đi giáo hoá chúng sinh. Tại Trung Quốc, Phật Di-lặc cũng hay được biểu tượng là một vị mập tròn vui vẻ, trẻ con quấn quít xung quanh. Theo truyền thuyết thì đó chính là hình ảnh của Bố Ðại Hoà thượng, một hoá thân của Di-lặc ở thế kỉ thứ 10. Nếu năm đức Phật xuất hiện trên trái đất nói trên được xem là hoá thân của Ngũ Phật thì Phật Di-lặc được xem như hoá thân của Thành sở tác trí.
Có thuyết cho rằng, chính Ngài là người khởi xướng Ðại thừa Phật giáo hệ phái Duy thức. Một số học giả cho rằng, vị này chính là Mai-tre-ya-na-tha (s: Maitreyanātha), thầy truyền giáo lí Duy thức cho ngài Vô Trước (s: Asaṅga). Truyền thống Phật giáo Tây Tạng cho rằng, Ngài là tác giả của 5 bài luận (s: śāstra), được gọi là Di-lặc (Từ Thị) ngũ luận: 1. Ðại thừa tối thượng (đát-đặc-la) tan-tra (s:mahāyānottaratantra); 2. Pháp pháp tính phân biệt luận (s: dharmadharmatāvibaṅga); 3. Trung biên phân biệt luận (s: madhyāntavibhāga-śāstra); 4. Hiện quán trang nghiêm luận (s:abhisamayālaṅkāra); 5. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận (s: mahāyānasūtralaṅkāra).
[11] Thế Thân 世 親; C: shìqīn; J: seshin; S: vasu3ndhu; ~ 316-396; cũng được dịch là Thiên Thân (天 親), gọi theo Hán âm là Bà-tu Bàn-đầu;
Sư cũng là tác giả của Duy thức tam thập tụng, luận giải quan điểm của Duy thức tông, cũng như tác giả của nhiều bài luận về các tác phẩm của Vô Trước và về giáo lí Ðại thừa như Thập địa, kinh Kim cương, Diệu pháp liên hoa, Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm (s: sukhāvatī-vyūha).
[12] 金剛經纂要刊定記.
[13]Trí Môn Quang Tộ
智 門 光 祚; C: zhìmén guāngzuò; J: chimon kōso; ?-1031;
Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Vân Môn. Sư nối pháp Hương Lâm Trừng Viễn. Trong 30 người đệ tử nối pháp của Sư thì Tuyết Ðậu Trọng Hiển là danh tiếng nhất. Sư là một trong những Thiền sư đầu tiên làm kệ tán tụng những lời dạy của các vị tiền nhân và trong lĩnh vực này thì Sư có một vị đệ tử xuất sắc là Tuyết Ðậu nối dõi, người đã trứ tác Bích nham lục.
[14]Tuyết Đậu Trọng Hiển
雪 竇 重 顯; C: xuědòu chóngxiǎn; J: setchō jūken; 980-1052;
Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Vân Môn, môn đệ của Trí Môn Quang Tộ. Sư được biết đến là nhờ việc sưu tầm biên soạn 100 Công án, sau này được Thiền sư Viên Ngộ bổ sung thêm thành bộ Bích nham lục. Dòng Thiền của Sư được Thiền sư Thảo Ðường truyền qua Việt Namtrong thế kỉ 11. Nối Pháp của Sư là Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài.
Sư họ Lí, quê ở phủ Toại Ninh, theo sư Nhân Săn ở viện Phổ Am xuất gia. Sau khi thụ giới cụ túc, Sư đến những nơi giảng kinh luận, nghiên cứu cặn kẽ giáo lí. Sư lúc này đã nổi danh là biện luận lanh lẹ, là pháp khí Ðại thừa. Sau khi trải qua nhiều tùng lâm, Sư gõ cửa nơi Thiền sư Quang Tộ ở chùa Trí Môn. Sư nhân đây đại ngộ, ở với Trí Môn thêm năm năm.
Sau Sư đến trụ trì một ngôi chùa ở Ðộng Ðình – một hòn đảo rất đẹp và Sư cũng có làm một bài tụng về cảm xúc khi dời đến nơi này trong công án thứ 20 của Bích nham lục.
Sau, sư đến trụ trì tại Tứ Minh sơn, trên ngọn Tuyết Ðậu. Một hôm, Sư dạo núi nhìn xem bốn phía rồi bảo thị giả: ‘Ngày nào lại đến ở đây.’ Thị giả biết Sư sắp tịch, cầu xin kệ di chúc. Sư bảo: ‘Bình sinh chỉ lo nói quá nhiều.’ Hôm sau, Sư đem giày dép, y hậu phân chia và bảo chúng: ‘Ngày bảy tháng bảy lại gặp nhau.’ Ðúng ngày mồng bảy tháng bảy năm Hoàng Hựu thứ tư (1058) đời nhà Tống, Sư tắm gội xong nằm xoay đầu về hướng Bắc an nhiên thị tịch. Vua sắc thuỵ là Minh Giác Ðại sư.
明州雪竇山禪師,名重顯,字隱之,從所住號為雪竇。嗣法於智門祚。宋仁宗皇祐
四年寂,壽七十三。賜號明覺大師。見續傳燈錄二
[15] Bích Nham Lục, Tắc 90 T48; Trí Môn Bát-nhã thể.
[16] Đối chiếu Lục chủng thành tựu: Tín thành tựu, Văn thành tựu, Thời thành tựu, Chủ thành tựu, Xứ thành tựu và Chúng thành tựu.
[17] S: evaṃ mayā śrutam ekasmin samaye.
[18] Giờ Dần: 3g-5g sáng; giờ Mão 5g-7g sáng.
[19] Của ngài Huyền Trang. (12 quyển). Đời Đường , Huyền Trang thuật, Biện Cơ (辯機) soạn. T. 51, Tr. 867, Sh. 2087
[20] Long Ðàm Sùng Tín 龍 潭 崇 信; C: lóngtán chóngxìn; J: ryūta sōshin; tk. 8/9; Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Thiên Hoàng Ðạo Ngộ. Môn đệ lừng danh của Sư là Ðức Sơn Tuyên Giám. Sư con nhà bán bánh, mỗi ngày đem bánh đến cúng dường Thiền sư Ðạo Ngộ. Mỗi lần nhận bánh, Ðạo Ngộ lại để lại một cái cho Sư, nói: ‘Ta cho ngươi để ân huệ cho con cháu.’ và cứ thế một thời gian. Sư thấy lạ hỏi thì được trả lời: ‘Bánh của ngươi đem đến, ta cho lại ngươi có lỗi gì?’ Sư nghe hiểu diệu ý liền xin xuất gia. Ðạo Ngộ vì thấy Sư có hảo tâm cúng dường, ban pháp danh Sùng Tín. Sau Sư đến trụ tại Long Ðàm, dạy môn đệ. Không biết Sư mất năm nào.
21[21]李翱刺史(772-841) Cư sĩ đời Đường, tự là Tập Chi, người Lũng Tây, Thành Kỉ (nay ở phía tây Tần An, Cam Túc), có thuyết cho là người đất Triệu Quận (nay là huyện Triệu, tỉnh Hà Bắc) Trung Quốc. Từ thuở nhỏ học Nho uyên bác, hiếu cổ. Niên hiệu Trinh Nguyên thứ 14 (798) đậu Tiến sĩ. Lần lượt nhậm chức Hiệu thư lang, Quốc tử Bác sĩ, Sứ quán tu soạn, Gián nghị đại phu, Trung thư Xá nhân, Tiết độ sứ Đông Đạo ở Sơn Nam, cùng với thầy là Hàn Dũ, tài văn chương được đương thời khen ngợi. Theo Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm học hỏi lí thiền có chỗ tỏ ngộ. Có soạn tác phẩm: Phục Tính Thư.

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s