Thích Nhuận Châu chuyển ngữ Việt văn: Bài 2: Kim Cang Tông Thông (Kỳ 3: Chánh Văn: Kinh Kim Cang Bát-Nhã-Ba-La-Mật Ða Kinh Tông Thông – Kinh văn 2)

hb_53.7.3_av2.jpg

Kinh văn (2):

時長老須菩提在大眾中。即從座起偏袒右肩右膝著地。合掌恭敬而白佛言。希有世尊。如來善護念諸菩薩。善付囑諸菩薩。世尊。善男子善女人。發阿耨多羅三藐三菩提心。應云何住云何降伏其心。佛言。善哉善哉。須菩提。如汝所說。如來善護念諸菩薩。善付囑諸菩薩。汝今諦聽。當為汝說。善男子善女人。發阿耨多羅三藐三菩提心。應如是住如是降伏其心。唯然世尊。願樂欲聞。

Lúc ấy Trưởng lão Tu-bồ-đề từ chỗ ngồi trong đại chúng đứng dậy, bày vai áo bên phải, quỳ gối phải, cung kính chắp tay bạch Phật rằng: “Thế Tôn, thật ít có! Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ-tát, khéo dặn dò cho các vị Bồ-tát.

“Thế Tôn! Nếu có những thiện nam, tín nữ lòng lành, phát tâm cầu đạo Vô thượng Bồ-đề, nên trụ tâm như thế nào, hàng phục tâm như thế nào?

Đức Phật dạy: “Lành thay! Lành thay! Tu bồ-đề, đúng như ông vừa hỏi. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ-tát, khéo dặn dò cho các vị Bồ-tát. Nay hãy lắng nghe, Như Lai sẽ vì các ông mà giảng nói.

“Nếu có thiện nam, tín nữ lòng lành, phát tâm Bồ-đề, nên trụ tâm như thế này, nên
hàng phục tâm như thế này.”

“Bạch Thế Tôn! Xin nguyện lắng nghe.”

Thông rằng:
Tu-bồ-đề[22] vốn là Đông Phương Thanh Long Đà Phật, thị hiện tướng Thanh văn nhập vào chúng hội của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, vốn hiểu nhiều về lý Không (s: śūnyatā), nhưng chỉ chứng được thiên không,23[23] và nghe được Bảo minh không hải, ban đầu chứng không nhưng phải là bậc đại A-la-hán mới thể nhập được vào không. Trú ở địa thứ tám, ở đó gọi là Bất  động địa, hay còn gọi là Trụ địa Bồ-tát, sau đó tiến lên Cửu địa, Thập địa, tuỳ duyên thuyết pháp độ sanh mà trụ chỗ không trụ! Ở đây Tu-bồ-đề mở ra mối nghi để phá trừ thiên chấp cho hàng Bồ-tát. Các vị Bồ-tát đã phát tâm Vô thượng bồ-đề từ sơ địa trở lên, phần nhiều có ý thú hướng tịch tĩnh, mong cầu tiến lên các trú địa. Khi các ngài đã có được hiện pháp lạc trú rồi, chư Phật trong mười phương lại quở trách họ rằng:
Hãy đứng dậy, này bậc trượng phu! Hãy nên độ thoát chúng sinh, từ trí tuệ hãy chuyển hướng sang tâm từ bi, hãy chuyển tịnh sang động, trong đó đừng nên khởi tâm động niệm, nếu không hàng phục được tâm ấy, ắt là trái với với nghĩa trụ! Nếu một chiều lạc vào đường tẻ, dính mắc vào chỗ trụ, ắt là trái với ý nguyện độ sanh! Trong việc độ sanh mà vẫn thường hàng phục tâm mà không bỏ mất ý an trụ, thì tuy động mà lại tịnh.

Thử hỏi nên an trụ tâm như thế nào? Làm sao để hàng phục tâm?

Gọi là trụ, là chẳng trụ nơi tướng, như chỗ trụ của hàng phàm phu; cũng chẳng trụ ở không, như chỗ trụ của hàng Nhị thừa. Cho đến (chẳng trụ) chân như thật tế, chẳng phải giả chẳng phải không; mà an trụ trong chân đế trung đạo.

Nói hàng phục tâm, chẳng phải là đè nén, uốn nắn sáu thức như pháp tu tập của hàng phàm phu, cũng chẳng phải đoạn diệt thức thứ bảy như pháp tu tập của hàng Nhị thừa. Cho đến tập khí vi tế từ mảnh đất tâm là thức thứ tám, lấy chân như mà huân tập, khiến chuyển thức ấy thành trí. Ví như hàng phục giặc cướp thành người lương thiện, mới gọi là hàng phục. Điều nầy như ngài A-nan không trải qua nhiều a-tăng-kỳ kiếp mà chứng được pháp thân, mong cầu trừ được những sai lầm vi tế; ngoài Tu-bồ-đề ra không ai có thể đạt chỗ rốt ráo. Đây chẳng phải là việc nói suông!

San định ký nói rằng: Từ Lúc ấy Trưởng lão cho đến khéo dặn dò lại các vị Bồ-tát. Là nghiêm chỉnh, trang nghiêm thân tướng để tán thán Đức Phật. Đức hạnh cao cả gọi là Trưởng; tuổi nhiều gọi là Lão. Tu-bồ-đề, Hán dịch là Không sanh, còn gọi là Thiện Hiện. Từ chỗ ngồi trong đại chúng đứng dậy, là thể hiện đạo thầy trò có sự phân biệt rõ tôn ti thứ tự. Nếu muốn thưa hỏi điều gì, không thể ngồi mà hỏi. Bày vai áo bên phải, gối phải quỳ xuống đất, chắp tay nghĩ thầm, đều là biểu hiện lòng cung kính.

Có thể phối hợp thành ba nghĩa: đứng dậy, bày vai áo bên phải, chắp tay, là chỉ cho thân nghiệp. Cung kính, là ý nghiệp. Bạch Phật, là chỉ cho khẩu nghiệp.

Hy hữu có đầy đủ bốn nghĩa: Một là thời hy hữu, hai là xứ hy hữu, ba là đức hy hữu, bốn là sự hy hữu.

Thế tôn là một trong 10 hiệu của chư Phật, thường khiến cho bốn thứ ma sợ hãi.

Như Lai trong ba a-tăng-kỳ kiếp tu tập phước trí viên mãn, là Đấng như vậy mà đến. Còn gọi là từ chân như mà thành chánh giác rồi hoá độ chúng sinh.

Hộ niệm có hai nghĩa, một là nhiếp giữ các căn cho thuần thục để ngộ nhập thể tánh chân thật và thành tựu hạnh tự lợi; hai là để chuyển hoá vô lượng chúng sinh, tức thành tựu hạnh lợi tha.

Phó chúc cũng gồm hai nghĩa: một là thương xót hàng chúng sinh căn tánh chưa thành thục, phát tâm an trú trong Phật pháp, khiến cho họ được tăng trưởng, hai là giúp cho những người chưa có phát sinh niềm tin vào giáo pháp thù thắng, khiến cho niềm tin ấy được phát sinh.

Đem các vị Bồ-tát sơ phát tâm giao phó cho các vị đại Bồ-tát dạy bảo. Nhắc nhở các vị đại Bồ-tát siêng dạy bảo các vị vị Bồ-tát sơ phát tâm, như cha mẹ di chúc lại cho con cháu.

Di-lặc Bồ-tát có kệ tụng rằng:[24]
Xảo hộ nghĩa ưng tri.
Gia bỉ thân đồng hành.

Tức là gia bị thêm cho hàng Bồ-tát hạnh tự lợi và lợi tha.
Bất thối đắc vị đắc,
Thị danh thiện phó chúc.

Nghĩa là những ai đã được tâm bất thối chuyển thì càng tăng trưởng, những ai chưa được tâm bất thối thì sẽ phát tâm dõng mãnh thù thắng.

Bồ-tát[25] là tiếng Sanskrit, Hán dịch Giác hữu tình. Nói tóm tắt là, điều mình ước nguyện thành tựu là giác, hữu tình là đối tượng mình phát tâm cứu độ.

Từ câu thiện nam tử về sau là chính thức bắt đầu vấn đề muốn hỏi.

A-nậu-đa-la Tam-miệu tam-bồ-đề[26] tâm, Hán dịch là Vô thượng chánh đẳng chánh giác, là đem chánh trí giác ngộ chân thật như lý về chân đế mà vận hành, chẳng phải là trí giác tà vọng của hàng phàm phu; là tính giác ngộ thông suốt tục để hành xử, tức chẳng phải là cái biết thiên lệch của hàng Nhị thừa.

Theo Trí độ luận:[27] Từ nhân đến quả, có 5 loại bồ-đề:
1. Phát tâm bồ-đề: tức là hàng Bồ-tát thập tín.
2. Phục tâm bồ-đề: tức hàng Bồ-tát đã đến bậc tam hiền.
3. Minh tâm bồ-đề: tức hàng Bồ-tát từ sơ địa đến thất địa.
4. Xuất đáo bồ-đề: tức hàng Bồ-tát từ bát địa đến thập địa.
5. Vô thượng bồ-đề: tức Như Lai.

Nay nói gọn, năng phát tâm, tức thuộc vào hạng thứ nhất kể trên. Chỗ hướng đến khi phát tâm (sở), tức thuộc hàng thứ năm. Phối hợp năng sở mà luận, tức xuyên suốt cả trước sau.

Nên trụ tâm như thế nào? Khi chưa phát tâm, tức trụ vào lục trần; khi phát tâm rồi, niềm tin đã thích nghi nhờ sự cải đổi thói quen cũ, vậy thì trụ vào cảnh giới nào?

Hàng phục tâm như thế nào? Khi chưa phát tâm, vọng tâm khởi liền theo vọng; khi phát tâm rồi thì không thể theo vọng nữa, thì nên lấy gì mà hàng phục? Nên ý của Đức Phật trả lời rằng, xưa trụ ở cảnh giới lục trần, nay trụ vào bốn cảnh giới của tâm; xưa dính mắc vào tướng, nay không còn chấp trước vào tướng. Như vậy mới gọi là chân thật tu hành, phát bồ-đề tâm. Làm sao quên mất được?

Đức Phật dạy: “Lành thay! Lành thay! Là lời khuyến khích.

Đúng như ông vừa hỏi: là sự ấn chứng của Đức Phật. Hộ niệm và phó chúc là để cho hạt giống Phật không dứt tuyệt, việc nầy là tất nhiên. Ngài Không Sinh (Tu-bồ-đề) phát ra lời nói đều xứng hợp với công hạnh [của Như Lai], nên đức Điều ngự mới ấn chứng và khen tặng.

Nay ông hãy lắng nghe, Đức Phật dạy hãy lắng nghe.

Như Lai sẽ vì các ông mà giảng thuyết. Như Lai hứa sẽ chỉ bày cho các ông. Đế [28] có nghĩa là nghĩa sâu mầu chân thật, ý là muốn cho Tu-bồ-đề thâm nhập vào chân lý sâu mầu, hãy dùng tâm thanh tịnh mà lắng nghe.

Nếu có thiện nam, tín nữ, Là nêu ra đối tượng.

Nên trụ tâm như thế này, là lời khuyến khích. Ý là sẽ nói, tức là còn để lửng lời đáp ở văn sau, vì trong an trụ đã có hàng phục, nếu không hàng phục được tâm thì không thể an trụ trong Đại thừa. Nên (Như Lai) sẽ vì tâm uẩn khúc vi tế như vậy như vậy của các ông mà giảng nói.

Thưa hai tiếng Dạ vâng (duy nhiên) xong, ngài Thiện Hiện dứng chờ lắng nghe. Chữ duy 唯 hay nặc 諾 đều có nghĩa là thuận lòng. Hoa Nghiêm Thập địa phẩm nói:
“Như khát tư lãnh thuỷ, như cơ tư mỹ thực, như bệnh tư lương dược, như chúng phong
y mật, ngã đẳng diệc như thị, nguyện văn cam lồ pháp

Như người khát nghĩ đến nước mát, như người đói mong được thức ăn ngon, như người bệnh cầu thuốc hay, như loài ong tìm mật. Chúng con cũng như vậy, nguyện nghe được giáo pháp như vị cam lồ.”

Ong hút nhị trăm hoa làm thành mật, người tu tập vạn hạnh để chứng chân. Ong làm thành mật rồi, nhờ mật mà sống. Người chứng chân rồi, nương trụ trong thể tánh chân thật. Việc mong được nghe (nguyện văn) cũng giống như vậy.

Chương Tế ma vương truyền tụng trong quyến thuộc, một ngàn năm theo Kim Cang Tế Bồ-tát, tìm chỗ móng khởi [niệm tưởng] mà không được. Bỗng nhiên một hôm thấy ra, bèn hỏi rằng: “Ngài đang an trụ ở chỗ nào? Tôi ngàn năm nay tìm chỗ móng khởi [niệm tưởng] của ngài mà không được.” Kim Cang Tế Bồ-tát đáp:
“Tôi không nương vào chỗ trụ mà an trụ, không nương vào chỗ vô trụ mà an trụ, chỉ như vậy mà an trụ.” Chương Tế ma vương nói: “Lành thay, lành thay! Nếu theo chỗ trụ mà an trụ như vậy, mỗi mỗi đều là chỗ dòm ngó của Chương Tế ma vương, đây mới chân thật là bậc hàng phục tâm!” Do lời nói của Kim Cang Tế Bồ-tát hầu như khéo khế hợp với nghĩa Kim cang Bát-nhã, nên nhân đó mà có tên gọi!

(Còn tiếp)

 


[22] Tu-bồ-đề 須 菩 提; S, P: subhūti; Hán dịch: Thiện Hiện, Thiện Cát, Thiện Nghiệp; Một trong Mười đại đệ tử của Phật. Tôn giả là người nổi tiếng về phép thiền quán về lòng Từ. Trong bộ kinh Bát-nhã bala-mật-đa, Tôn giả là người giải thích tính Không (s: śūnyatā) ưu việt nhất.
[23] Thiên chấp về Không.
[24] Trong Bát thập kệ của Bồ-tát Di-lặc. Còn gọi là Di-lặc Bồ-tát tụng.
[25] S: bodhi-sattva; p: bodhi-satta.
[26] S: anuttara-samyak-saṃbodhi; p: anuttara-sammāsambodhi.
[27] 大 智 度 論; S: mahāprajñāpāramitā-śāstra;
Một tác phẩm luận giải của ngài Long Thọ về bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā-sūtra).
Bộ luận này là một trong những bộ luận căn bản tầm cỡ nhất của Phật pháp và là một trong hai bộ luận quan trọng nhất của Long Thụ song song với luận Trung quán (s: madhyamaka-śāstra).
Luận này bao gồm 100 quyển, 90 phẩm, được ngài Cưu-ma-la-thập (s: Kumārajīva) dịch sang Hán ngữ năm 402. Luận này giảng giải nhiều vấn đề như học thuyết, tư tưởng, và đặc biệt trích dẫn rất nhiều kinh sách. Taishō:
[28] 諦 satya,巴 sacca,藏 bden-pa. Chân lí chắc thật. Sự thực. Có hai loại:
1. S: saṃvṛti-satya; còn gọi là Thế tục đế; Chân lí qui ước Là chân lí tương đối của thế giới hiện tượng, ngược lại với Chân đế (chân lí tuyệt đối; s: paramārthasatya).
Quan điểm »hai chân lí« (Nhị đế; s: satyadvaya) này được nhiều tông phái Phật giáo chủ trương, nhưng cũng có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau.
2. S: paramārtha-satya: Ðệ nhất nghĩa đế 第 一 義 諦tức Chân lí tuyệt đối; cũng được gọi là Thánh đế đệ nhất nghĩa, Chân đế, Chân lí cao nhất, Chân lí tuyệt đối;

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s