Thích Nhuận Châu chuyển ngữ Việt văn: Bài 2: Kim Cang Tông Thông (Kỳ 4: Chánh Văn: Kinh Kim Cang Bát-Nhã-Ba-La-Mật Ða Kinh Tông Thông – Kinh văn 3)

00032Y-7418

Kinh văn (3):

佛告須菩提。諸菩薩摩訶薩應如是降伏 其心。所有一切眾生之類。若卵生若胎生若濕生若化生。若有色若無色。若有想若無想。若非有想非無想。我皆令入無餘涅槃而滅度之。如是滅度無量無數無邊眾生。實無眾生得滅度者。何以故。須菩提。若菩薩有我相人相眾生相壽者相。即非菩薩。

Phật bảo Tu-bồ-đề: “Các vị đại Bồ-tát nên hàng phục tâm như thế này: ‘Đối với tất cả các loài chúng sanh: hoặc sanh từ bào thai, hoặc sanh từ trứng, hoặc sanh nơi ẩm thấp, hoặc do biến hóa sanh ra, hoặc có sắc, hoặc không có sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng, Như Lai đều độ thoát, khiến nhập vào Vô dư niếtbàn. Độ thoát cho vô số chúng sanh như vậy, mà thật không có chúng sanh nào được độ thoát.

“Vì sao vậy? Tu-bồ-đề, nếu Bồ-tát có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, thì chẳng phải là Bồ-tát.

Phó Đại sĩ có bài tụng:
Không Sinh sơ thỉnh vấn,
Thiện Thệ ứng cơ thù,
Tiên đáp vân hà trụ,
Thứ giáo như thị tu.
Thai sanh noãn thấp hoá,
Hàm linh bi trí thâu;
Nhược khởi chúng sinh kiến,
Hoàn đồng trước tướng cầu.

Nghĩa là: Không Sinh (Tu-bồ-đề ) vừa mới hỏi, Thiện Thệ (Như Lai) liền ứng theo căn cơ mà đáp, ban đầu trả lời cách an trụ, tiếp đến chỉ bày cách tu. Các loài chúng sinh từ thai trứng, ẩm thấp, biến hoá mà sinh ra, đều gồm chung là loài hàm linh có từ bi trí tuệ. Nếu khởi cái thấy có chúng sinh tức là cũng như chấp tướng mà cầu [Như Lai]”.

Thông rằng:
Đoạn nầy chính là để đáp lại câu hỏi của Tu-bồ-đề. Hỏi rằng trong an trụ đều đã gồm cả hàng phục, nay chỉ nêu lên hàng phục là sao? Vì Vô thượng bồ-đề vốn không có tướng trạng, vốn lìa xa năng sở. Người phát bồ-đề tâm muốn có được tính thường trụ nầy, đạt được tâm không thối thất, [phải biết] điều khó nhất là lực phan duyên vào vi tế vô minh âm thầm khởi phát, chỉ khởi một niệm là liền rời xa bản vị, không thể gọi là an trụ được! Nếu miễn cưỡng ngăn che không cho niệm khởi, tức rơi vào ngăn che, không được gọi là an trụ! Nếu mỗi niệm đều tương ưng, nhưng niệm chấp trước vào an trụ không xả bỏ được, thì lại rơi vào trụ trước, không được gọi là an trụ! Duy chỉ có tự thể chân như là đầy đủ trí huệ Kim cang, đủ để chiếu phá và hàng phục tâm. Kinh nầy chủ yếu là dụng của trí huệ Bát-nhã, nên lấy việc hàng phục tâm làm cương lĩnh cho tông chỉ. Nếu có trí huệ hàng phục nầy, không chỉ hàng phục được tâm không an trụ, mà còn có thể hàng phục niệm sai sử an trụ, tức là tâm mong cầu chỗ trụ, cũng có thể hàng phục cả niệm sai sử vô trụ. Vô trụ mà trụ, mới thật là chân thật an trụ. Riêng nói hàng phục, nghĩa là an trụ một cách tự tại trong tâm ấy, riêng nói an trụ mà thiếu hàng phục thì an trụ không thành, nên chỉ nêu hàng phục mà thôi! Dụng của hàng phục rất lớn! Tâm hẹp hòi nên muốn được rộng lớn, tâm thấp nhỏ nến muốn được cao thượng, tâm thích thiện lành thì muốn mọi sự bình thường, tâm điên đảo thì mong có trí huệ chân chính, phải là người phát bồ-đề tâm mới có đầy đủ bốn tâm nầy, mới mong được tương ưng với bồ-đề tâm, mới được gọi là giác hữu tình.

Di-lặc Bồ-tát có kệ rằng:
Quảng đại đệ nhất thường,
Kỳ tâm bất điên đảo,
Lợi ích thâm tâm trụ,
Thử thừa công đức mãn.

Tạm dịch:
Tâm rộng lớn thường nhất
Vốn chẳng hề điên đảo
Trụ lợi ích thâm sâu
Nhờ công đức viên mãn.

Ở đây chỉ bày bốn loại thâm tâm tương ưng của hàng Bồ-tát với kết quả làm lợi ích chúng sinh, các Bồ-tát nên phải an trụ tâm như vậy.

Sao gọi là quảng đại tâm? Như trong tất cả các loài chúng sinh, nghĩa là loài thụ bẩm hơi thở phong khí tức là gồm trong loài biết có tình thức, nếu loài sinh từ trứng như là các loài chim, loài sinh từ thai như người, loài sinh trong môi trường ẩm thấp là côn trùng, loài hoá sinh như là chư thiên cõi trời. Tất cả các loài trong tứ sinh lục đạo đều có nhiều tộc loại, vậy các loài chúng sinh nầy trụ trong chỗ nào? Như loài có sắc tướng thì cõi dục và các tầng trời cõi sắc là chỗ nương trụ của họ. Còn loài vô sắc thì các cõi vô sắc giới và các cõi trời của không vô biên xứ là chỗ nương trụ của họ. Lại còn một số loài nữa, như loài hữu tưởng thì các tầng trời của thức vô biên xứ, khi khởi tưởng về không thì đây chính là chỗ nương trụ của họ. Như loài vô tưởng thì các tầng trời của vô sở hữu xứ,
khi khởi niệm lìa xa chút tưởng thì đây chính là chỗ nương trụ của họ. Như loài phi hữu tưởng phi vô tưởng tức là cõi trời hữu đảnh phi phi tưởng, nơi không có tưởng thô chỉ có những tưởng rất vi tế là chỗ nương trụ của họ. Chúng sinh trong ba cõi đều dung nhiếp trọn trong đây, tất cả chủng loại như vậy, đều là đối tượng độ thoát của mình. Tâm ấy rộng lớn biết bao! Sao gọi là Đệ nhất tâm? Độ chúng sinh không khó, đưa chúng sinh thể nhập niết bàn mới là khó. Độ chúng sinh nhập niết bàn không khó, đưa tất cả chúng sinh thể nhập vô dư niết-bàn mới là khó.

Niết-bàn có bốn loại:
1. Tự tánh niết-bàn: phàm thánh đều có.
2. Hữu dư y niết-bàn: tức hàng Nhị thừa đã ra khỏi phiền não chướng nhưng còn cái khổ khi còn nương vào thân.
3. Vô dư y niết-bàn: tức hàng Nhị thừa đã khôi thân diệt trí, thân đã ra khỏi cái khổ sinh tử không còn lưu lại điều gì.
4. Vô trụ xứ niết-bàn: trí huệ đều gồm đủ. Không trụ ở hàng Bồ-tát biến dịch sinh tử, không trụ ở hàng Nhị thừa vào niết-bàn với tro tàn mất hẳn, mới chân thật là vô trụ xứ.

Ba dạng niết-bàn trước là Hữu dư y niết bàn. Dạng Niết-bàn sau cùng là Vô dư y niết-bàn, tức cảnh giới của chư Phật. Do đây mà độ thoát chúng sinh, ý nguyện muốn cho hết thảy chúng sinh gồm 9 loài trong 3 cõi, loài hữu tánh và vô tánh đều thành Phật đạo, đó là nghĩa tối thượng của đệ nhất tâm.

Sao gọi là bình thường tâm? Hết thảy chúng sinh cho đến thân mình đều bình đẳng không sai biệt trong thể tánh chân như. Độ thoát vô lượng chúng sinh như vậy đều nhập vào vô dư niết-bàn, nhưng thật không có chúng sinh nào được diệt độ. Kinh Tịnh Danh[29] nói: Hết thảy chúng sinh đều vốn có tướng rỗng lặng, vậy không trở nên tịch diệt lại nữa. Nếu còn thấy chúng sinh có thể được diệt độ, tức là còn tâm ưa thích, còn muốn đến đi, tức không phải là bình thường tâm. Chỉ cần phải nhiếp phục cái tâm ưa thích, dù độ hay không độ chúng sinh, tâm nầy vẫn chẳng phải hai, nên gọi là bình thường tâm.

Chúng sinh diệt độ chẳng khác tự thân, nếu nơi tự thân khởi lên niệm tưởng khác, như còn thấy một chúng sinh do mình độ thoát, thì điều nầy có gì sai trái? Do không nhận ra đệ nhất nghĩa nên khởi lên ngã tướng, nhân tướng chúng sinh tướng, thọ giả tướng, quay lưng với tánh giác mà hiệp với cảnh trần, nên đều gọi là điên đảo. Nói điên đảo, tức là chỉ cho hàng phàm phu, chẳng phải là Bồ-tát. Nếu có người chứng được đệ nhất nghĩa đế chân thật, thì bốn tướng tưởng về chúng sinh, ngã, nhân, thọ giả nhất định sẽ không sanh khởi. Như hàng Dự lưu không còn sinh khởi thân kiến. Đã không có quan niệm tướng của riêng mình (tự tướng) rồi, tức chẳng thấy có tướng của chúng sinh (tha tướng); tự tha đều bình đẳng, thì thấy hết thảy tướng chúng sinh đều bất khả đắc.

Ngài Chí Công nói:
Dĩ ngã thân không chư pháp không, 
Thiên phẩm vạn loại tất giai đồng

Nghĩa là:
Do thân không nên các pháp không, 
Muôn ngàn phẩm loại tất chung đồng.

Là nghĩa nầy.

Chánh trí cùng với nhĩ diệm[30] không đồng. Nhĩ diệm phiên âm từ tiếng Sanskrit. Hán dịch là sở tri chướng. Còn sở tri chướng tức gọi là điên đảo; không còn sở tri chướng tức gọi là chánh trí. Đã là chánh trí thì không còn tâm phân biệt, nhưng nhĩ diệm (sở tri chướng) thì còn tâm phân biệt. Như bốn tướng nói trên, khi chứng ngộ rồi mới biết rõ, chính là do biết được cái sở tri chướng (nhĩ diệm) trong mình.

Còn thấy có niết-bàn để chứng đắc, tức là còn ngã tướng. Nhận ra rằng sở chứng chính là không, tức là nhân tướng; việc liễu đạt chứng ngộ cũng phải lìa xa, đó là chúng sinh tướng; vẫn còn giữ cái biết về liễu tri, đó là thọ giả tướng. Bốn tướng nầy cùng với trong kinh Viên Giác không khác.

Thẩm trừ vi tế hoặc[31] chính là điều nầy. Bồ-tát đã phát tâm, thường độ chúng sinh, được gọi là ma-ha-tát. Đại Bồ-tát nầy còn có một phần sinh tướng vô minh, chưa xả bỏ được chúng sinh tướng. Trong đó thật không có một chúng sinh được diệt độ, mà độ thoát chính là tự hàng phục tâm mình. Nếu thấy có một chúng sinh được diệt độ, tức dính mắc vào tướng chứng ngộ liễu giác, là chẳng phải chánh trí, nên còn có việc hàng phục. Hàng phục bốn tướng tức tự an trú trong vô dư niết-bàn và còn có thể khiến chúng sinh được an trú trong vô dư niết-bàn.

Ở ngay trong sinh tử nhưng không bị xoay chuyển bởi sinh tử nên gọi là vô thượng niết-bàn. Ở trong phiền não mà không bị lay chuyển bởi phiền não, đó gọi là bồ-đề. Đây gọi là hai thứ chuyển y, chính là quả[31]

vị viên mãn ở trong Phật địa. Nên nói là “Thử thừa công đức mãn–Nhờ vào đây mà có được công đức viên mãn.” Nếu không có nhân là trí huệ Bát-nhã, làm sao có được điều nầy!

Sử Sơn Nhân hỏi Thiền sư Khuê Phong:32[32] Các kinh đều nói độ thoát chúng sinh, mà chúng sinh là chẳng phải chúng sinh, cớ sao lại phải cực nhọc độ thoát?

Khuê Phong đáp: Chúng sinh nếu là thật, thì độ chúng sinh là khó nhọc. Đã tự nói là chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh, tại sao không ví như độ mà chẳng độ.

Lại hỏi: Trong kinh nói Phật thường trụ, hoặc là nói Phật nhập diệt. Đã thường tức là bất diệt. Diệt tức chẳng thường, có trái nhau chăng?

Khuê Phong đáp: Lìa xa các tướng tức gọi là chư Phật. Sao lại có tướng sanh ra đời rồi nhập diệt! Thấy có sinh ra rồi mất đi là do ở cơ duyên. Khi cơ duyên tương ứng, ắt thấy có tướng (Phật) thị hiện dưới cây bồ-đề; khi hết cơ duyên, ắt nhập niết-bàn tại rừng sa-la. Vốn khi nước trong lặng cũng như vô tâm, chẳng có tướng nào mà không hiện ra. Còn vật từ bên ngoài đến rồi đi, tướng ấy chẳng phải là Phật thân, làm sao mà Như Lai có tướng sinh khởi rồi biến mất!

Hai đoạn vấn đáp trên, đủ phân tích rõ ý nghĩa sâu mầu của đoạn kinh nầy! Cư sĩ Bàng Uẩn thường dạo chơi chợ búa, tuỳ hỷ theo (tinh thần) kinh Kim Cang, đạt đến chỗ vô ngã vô nhân. Ông nghe giảng Kinh Kim Cang, liền hỏi: Toạ chủ! Đã vô ngã vô nhân, vậy ai giảng ai nghe?

Toạ chủ không đáp được.

Cư sĩ Bàng Uẩn nói: Tôi tuy là kẻ tục, tâm trí thô thiển nhưng cũng có niềm tin để hướng đến.

Toạ chủ hỏi: Ý cư sĩ như thế nào?

Bàng Uẩn dùng kệ đáp:
Không ngã lại không nhân,
Làm sao còn sơ thân,
Xin ngài thôi nói suông,
Đừng như chân cầu chân.
Tánh Kim cang Bát-nhã,
Ngoài dứt mảy bụi trần,
Tôi nghe đều tin nhận,
Đều chỉ bày giả danh.

Tọa chủ nghe kệ lòng cảm khái, trân trọng tán thán: “Như cư sĩ thật là Bồ-tát tái lai!”

(Còn tiếp)

 


[29] Tức Kinh Duy-ma-cật. Có các bản dịch với các tên gọi:
1. Phật Thuyết Duy Ma Cật Kinh (2 quyển) Ngô Chi Khiêm dịch . T. 14, Tr. 519, Sh. 474
佛說維摩詰經 (二卷) (吳 支謙譯
2. Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh (6 quyển). Huyền Trang dịch. T. 14, Tr. 557, Sh. 476 說無垢稱經 .
[30] S: jñeya. Ý dịch là Sở tri 所知, Cảnh giới 境界, Trí mẫu 智母, Trí cảnh 智境, Thanh minh 聲明, Công xảo minh工巧明, Y phương minh醫方明, Nhân minh 因明, đều có thể khiến phát sinh cảnh giới trí huệ. Nên gọi là Nhĩ-diệm.
[31] Hy cánh thẩm trừ vi tế hoặc (Kinh Thủ-lăng-nghiêm)
[32] Khuê Phong Tông Mật 圭 峰 宗 密; C: guīfēng zōngmì; J: keihō shūmitsu; 780-841; Thiền sư Trung Quốc dòng Hà Trạch Thần Hội và cũng là Tổ thứ 5 của Hoa nghiêm tông. Sư tìm cách phối hợp giáo lí của Hoa nghiêm tông và cách thực hành của các vị Thiền sư. Sư luận giải giáo lí của Hiền Thủ Pháp
Tạng – Tổ thứ ba của Hoa nghiêm tông – bằng ngôn ngữ dễ hiểu hơn. Hoa nghiêm nguyên nhân luận của Sư là một trong những tác phẩm tiêu chuẩn mà những vị tăng ở Nhật Bản phải học qua.
Sư họ Hà, quê ở Quả Châu, lúc đầu qui y ở Toại Châu nơi Thiền sư Viên. Nhân dịp đọc kinh Viên Giác, Sư bỗng ngộ yếu chỉ. Sau khi đọc Hoa nghiêm sớ, Sư đến yết kiến Pháp sư Thanh Lương Trừng Quán và sau trở thành Tổ thứ năm của Hoa nghiêm tông. Danh tiếng của Sư lan tràn khắp nơi và vua Ðường Văn Tông ban cho Sư áo ca-sa tía (tử y). Ngày 6 tháng giêng năm Hội Xương, Sư ngồi thị tịch. Vua sắc phong là Ðịnh Huệ.
Một tác phẩm nổi tiếng khác của Sư là Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự cũng thường được nhắc đến, trong đó Sư phân chia Thiền thành năm thể loại, được gọi chung là Ngũ vị thiền.

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s