Thích Nhuận Châu: Bài 2: Kim Cang Tông Thông (Kỳ 5: Chánh Văn: Kim Cang Tông Thông – Kinh văn 4)

diamond-sutra2

Kinh văn (4):

復次須菩提。菩薩於法應無所住行於布施。所謂不住色布施。不住聲香味觸法布施。須菩提。菩薩應如是布施不住於相。何以故。若菩薩不住相布施。其福德不可思量。須菩提。於意云何。東方虛空可思量不。不也世尊。須菩提。南西北方四維上下虛空可思量不。不也世尊。須菩提。菩薩無住相布施福德。亦復如是不可思量。須菩提。菩薩但應如所教住 。

Lại nữa, Tu-bồ-đề! Bồ-tát theo đúng pháp, nên lấy tâm không chỗ trụ mà làm việc bố thí. Nghĩa là chẳng nên trụ nơi hình sắc mà bố thí, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc, pháp tướng mà bố thí.

Tu-bồ-đề! Bồ-tát nên không trụ nơi tướng như vậy mà bố thí.

Sao vậy? Nếu Bồ-tát bố thí với tâm không trụ tướng, phước đức ấy chẳng thể suy lường.

Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Hư không phương đông có thể suy lường được chăng?

Bạch Thế Tôn, chẳng thể được.

Tu-bồ-đề! Hư không các phương nam, tây, bắc, bốn phương phụ, phương trên, phương dưới có thể suy lường được chăng?

Bạch Thế Tôn, chẳng thể được.

Tu-bồ-đề! Bồ-tát bố thí với tâm không trụ tướng, phước đức cũng như vậy, chẳng thể
suy lường.

Tu-bồ-đề! Bồ-tát chỉ nên trụ tâm theo như điều đã chỉ dạy.

Phó Đại sĩ có bài tụng:
Nhược luận vô tướng thí,
Công đức cực nan lương,
Hành bi tế bần phạp,
Quả báo bất tu vọng,
Phàm phu tình hành liệt ,
Sơ thả lược xưng dương;
Dục tri đàn trạng mạo,
Như không độc thập phương.

Tạm dịch:
Bố thí mà vô tướng
Công đức lớn vô cùng
Tâm bi hành từ tế
Qủa báo chẳng trông cầu
Phàm phu tình thức yếu
Ban đầu lược nêu lên
Muốn biết thực bố thí
Hư không khắp mười phương.

Thông viết:
Bồ-tát vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh nên tu tập lục độ vạn hạnh; trong lục độ ba-la-mật-đa thì Bát-nhã độ đứng hàng đầu. Tu tập Bát-nhã là nhân của pháp thân, tu tập năm độ còn lại là nhân của báo thân và hoá thân. Trên đã nói về hàng phục bốn tướng vi tế, nhưng đó chỉ mới hàng phục trên phương diện lý thể; từ đây trở về sau là nói về việc tu hành lục độ ba-la-mật-đa, tức là hàng phục trên phương diện sự tướng. Nếu tu phước mà không tu huệ, thì pháp thân không được viên mãn. Nếu tu huệ mà không tu phước, thì báo thân và hoá thân không được viên thành. Nên Bát nhã độ thường được tôn trọng trong năm độ còn lại. Nếu thực hành năm độ mà không tu Bát-nhã, thì không thể nào đến được bờ giải thoát bên kia (đáo bỉ ngạn).

Trước đã nói về tâm rộng lớn (quảng đại tâm), đệ nhất tâm, bình thường tâm, tâm không điên đảo, nếu có đủ bốn tâm nầy chính là hàng phục được tâm. Đã hàng phục được tâm rồi, tức có thể lìa hẳn các tướng; đã lìa hẳn các tướng rồi, tức có thể thực hành bố thí mà không trụ tướng. Vậy nên việc tu hành tức là thể hiện sự tương ưng của hàng phục và an trụ tâm.

Sao gọi là tương ưng? Chỉ làm việc bố thí, trì giới, v.v… thì chưa được gọi là tương ưng. Không tu tập bố thí, trì giới, đều chẳng được gọi là tương ưng. Ngay nơi tu tập bố thí, trì giới, v.v… mà lìa hẳn các tướng, lìa các tướng mà thực hành bố thí, trì giới, v.v… mới được gọi là tu hành có tương ưng. Nên kinh nói Bồ-tát trong Phật pháp không nên trụ trên sự tướng mà thực hành bố thí.

Bố thí có 3 loại, nghĩa bao hàm trong lục độ:
– Một là bố thí bằng tài vật.
– Hai là vô uý thí, nghĩa là bố thí sự không sợ hãi.
– Ba là pháp thí, bố thí giáo pháp.

Tư sanh thí nghĩa là đem tiền bạc của cải ra bố thí. Vô uý thí, nghĩa là nhờ thực hành trì giới, nhẫn nhục nên không còn tâm hại vật, nếu có oán cừu cũng không nghĩ đến báo thù, không đem lại sự khiếp sợ cho người khác. Pháp thí nghĩa là do thực hành hạnh tinh tấn, với các việc lành tâm không lui sụt; do tu tập thiền định, như gương soi nước lặng, thấu đạt lý tình. Nhờ tu tập trí huệ mà không còn điên đảo, như lý như sự mà tuỳ duyên thuyết pháp.

Di-lặc Bồ-tát có kệ rằng:
Đàn nghĩa nhiếp ư lục,
Tư sanh vô uý pháp,
Thử trung nhất nhị tam,
Danh vi tu hành trụ.

Tạm dịch:
Bố thí nhiếp trong sáu (độ)
Tài , vô uý, pháp thí
Một, hai, ba trong sáu (độ)
Gọi là tu hành trụ.

Một là tư sanh (tài thí), hai là vô uý thí, ba là pháp thí.

Thế nào là không trụ nơi tướng? Tức là không trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; thực hành bố thí mà không có ý mong cầu bên ngoài. Một là do thương quý thân mình hiện tại mà không dám bố thí, hai là do đáp trả ân nghĩa đời trước mà bố thí, ba là mong cầu hy vọng quả báo giàu có trong đời tương lai mà bố thí. Tất cả những điều nầy cần phải loại trừ, bất luận tâm cảnh có không, dù chỉ khởi tâm động niệm, đều trái với thể tính của pháp. Khi làm việc bố thí, chỉ nên giữ tâm bình đẳng, không phân biệt vật đem bố thí, phân biệt người bố thí, và người nhận vật bố thí, thì mới được gọi là thực hành bố thí không trụ tướng.

Di-lặc Bồ-tát có kệ rằng:
Tự thân cập báo ân,
Quả báo tư bất trước;
Hộ tồn kỷ bất thí,
Phòng cầu ư dị sự.

Có nghĩa là:
Vì riêng mình mà bố thí, là còn lỗi lầm tâm vị kỷ chưa xả bỏ được. Bố thí vì để trả ân,
hoặc mong cầu quả báo, là còn mắc sai lầm là mong cầu vào việc khác.

Không trụ vào sắc, chỉ đưa ra một loại trong sáu trần; nếu kể hết, từ năm ấm, sáu căn, 18 giới. Mười hai nhân duyên, bốn thánh đế, cùng 37 phẩm trợ đạo, cho đến bồ-đề niết-bàn, gồm 81 khoa, đều chẳng nên trụ chỗ nào cả. Tu hành lục độ ba-lamật-đa như vậy, nhân đó mà được thanh tịnh, nên gọi là Bồ-tát nên bố thí không trụ tướng.

Bồ-tát trong đệ nhất nghĩa đế, thấy người bố thí, người nhận bố thí và vật đem bố thí, các niệm tưởng về danh nghĩa, về trí, về cảnh đều không sanh khởi, thì việc hàng phục tâm nhân đó sẽ được thanh tịnh.

Nếu có người gạn hỏi: “Nếu đã ngay nơi bố thí, v.v…phải rời bỏ các tướng, làm sao có được phước đức lợi lạc?” Để đáp lại điều nầy, bố thí mà mong sinh được nhiều phước đức, tức là Bồ-tát chưa rời bỏ thế đế mà làm việc bố thí. Vốn hằng ở trong đệ nhất nghĩa đế nên không trụ nơi tướng; không trụ tướng chính là hàng phục tâm.

Bố thí với tâm thanh tịnh tức tâm đã an trụ. Tu huệ phải gồm cả tu phước thì huệ mới không bị rơi vào khô huệ (càn huệ). Tu phước phải gồm cả tu huệ thì phước ấy không thể nào so sánh bằng. Ví như hư không trong 10 phương, đông tây nam bắc, tứ duy, trên, dưới, gồm tất cả mọi nơi, cao rộng hơn cả, rốt ráo không cùng, không có sự suy lường nào đến được. Nhưng Bồ-tát tu hành thanh tịnh, thấy không có tướng nào để chứng đắc, vị ấy thấy so sánh quả báo phước đức khó có thể suy tính được cũng do như vậy; phước huệ tròn đầy, gọi là lưỡng túc tôn, đó là quả vị tối cao. Nên gọi rằng thừa này công đức viên mãn. Nên ở đây có lời kết luận mang ý khuyến tấn rằng: Bồ-tát nên như lời dạy mà trụ tâm.

Bản dịch đời Nguỵ chép: Chỉ nên như vậy mà thực hành bố thí.[33] Câu hỏi của Tu-bồ-đề là nên trụ tâm chỗ nào? Chỉ lo không đạt được chỗ trụ như vậy, nên Thế tôn mới dạy hàng Bồ-tát thực hành bố thí không trụ tướng, để khỏi trụ ở chỗ dụng tâm. Có gì tương phản nhau chăng? Vì vốn không trụ mà trụ, tức trụ chân không. Như chim chẳng trụ hư không, mà lại trụ hư không; nếu trụ ở hư không tức là chẳng trụ.

Kinh Văn-thù Bát-nhã có ghi: “Đức Phật bảo Văn-thù-sư-lợi, nên như thế nào gọi là trụ Bát-nhã ba-la-mật-đa?”

Văn-thù-sư-lợi thưa: “Do pháp bất trụ tức là trụ Bát-nhã ba-la-mật-đa.

Thế tôn lại hỏi: “Thế nào là pháp bất trụ mà gọi là trụ Bát-nhã ba-la-mật-đa?”

Văn-thù-sư-lợi đáp: “Do tướng vô trụ, tức trụ Bát-nhã ba-la-mật-đa.”

Tam-muội Kinh nói rằng: “Pháp Như Lai giảng nói, tất theo chỗ vô trụ; con theo chỗ vô trụ, ngay chỗ vô trụ ấy mà đảnh lễ Như Lai. Nên Bồ-tát phải như lời dạy, sẽ được chỗ không trụ mà trụ.”

Xưa ngài Động Sơn34[34] hỏi một vị tăng:

Từ đâu tới?

Tăng trả lời: Theo đường núi đến?

Động Sơn hỏi: Đã lên tới đỉnh chưa?

Tăng đáp: Lên đến rồi!

Động Sơn hỏi: Trên núi có người không?

Tăng đáp: Không!

Động Sơn hỏi: Như vậy là chưa đến đỉnh hay sao? Tăng đáp: Nếu chưa tới đỉnh, làm sao biết không có người?

Động Sơn hỏi: Sao không tạm dừng trụ?

Tăng đáp: Tôi không từ chối việc dừng trụ, nhưng ở Tây thiên có người không chịu.
Động Sơn hỏi: Ta xưa nay đã nghi ngờ gã nầy rồi.

Thiên Đồng cử pháp ngữ của Triệu Châu:[35] Gặp nơi có Phật không được dừng lại, gặp nơi không có Phật nhanh chóng đi qua.

Rồi có bài niêm rằng:
Trầm không trệ tịch,
Phạm thủ thương phong,
Câu vị thị nạp tăng khứ tựu.
Chân tu mạc nhập nhân hànhthị,
Mạc toạ tha sàng tháp,
Chính bất lập huyền,
Thiên bất phụ vật,
Phương năng bả trụ phóng hành hữu tự do 
phần.

Tạm dịch:
Trầm không trệ tịch
Dao nhọn đứt tay
Đều chẳng phải chỗ nạp tăng lui tới.
Chẳng nên đánh bạn với người hàng chợ
Chẳng ngồi giường người khác.
Chân thật thì chẳng cần sâu xa.
Nghiêng lệch thì chẳng giúp được vật.
Mới có thể nắm lấy sự dừng trụ,
Phóng xả hành tướng mà được chút
phần tự do.

Hai bậc tôn túc nầy, làm rõ thêm ý chỉ của dừng trụ, mới biết tông chỉ tối cao của Tào Động. Hai cực đoan đều chẳng lập, cũng chẳng an trụ nơi trung đạo, đó chính là huyết mạch chân thật của Bát-nhã.

Trên là phần đối đáp. Sau đây là phần truy theo dấu tích để trừ nghi.

Thông rằng:
Phần vấn đáp ở trên, là để khiển trừ mối nghi của Tu-bồ-đề, hiển bày huyết mạch chính tông của Như Lai. Độ khắp chúng sinh, gom về biển Như Lai tạng, tu hạnh vô tướng đồng như pháp thân chư Phật.

Bình đẳng với hư không pháp giới, trụ niết-bàn mà không trụ, các pháp hữu vi mà lại vô vi. Phước đức oai lực tất cả đều thành tựu.

Phối hợp phần kết của kinh nhập vào phần lưu thông. Theo mối nghi của Tu-bồ-đề, hướng đến tịch tĩnh thì trái với nguyện độ sanh, để độ sanh thì trái với thú hướng tịch
tĩnh. Có tình thức chỉ sinh ra phân biệt mà chẳng được viên dung. Nên Thế tôn lập đại pháp tràng, quyết phá sạch tình thức phân biệt nầy, nên nói độ mà chẳng độ, ngại gì nơi tịch tĩnh; vì tịch mà chẳng tịch, phương ngại gì đến việc độ. Chủ yếu là khiến cho các hạnh bố thí được điều phục, đều phải lìa xa tâm chấp tướng. Không trụ mà trụ, tức là thường trụ. Điều vi diệu nầy thật khó hiểu rõ. Niệm mà vô niệm, có tướng mà chẳng phải tướng, nói mà chẳng nói, chứng mà không chứng. Mọi thứ đều trái nhau,
sao mà chẳng nghi! Khi mối nghi trước đã trừ được rồi, mối nghi sau lại sinh khởi.

Tâm nghi chưa dừng, tức là chưa hàng phục được tâm. Nếu đã điều phục được tâm không còn nghi, các chấp trước đã dừng bặt rồi, tức là đã thành tâm. Đã thành tâm thì không cần phải trừ diệt, tức là trụ mà chẳng cần chỗ trụ. Nên điều phục mọi thứ chỉ là để trừ dẹp mối nghi vi tế nầy.

Kinh nầy chỉ nói đến sự đoạn trừ các mối nghi ấy mà không nói đến sự sinh khởi của nó, chỗ sinh khởi của nó rất vi tế, chỉ có Phật nhãn của Thế tôn mới có thể chiếu rõ từng thứ một. Không cần đợi đến hỏi mà âm thầm đoạn trừ nó, đây mới gọi là trí huệ Kim cang, không phải là chỗ đo lường được của hạng phàm tình!

Di-lặc Bồ-tát có kệ rằng:
Điều phục bỉ sự trung,
Viễn ly thủ tướng tâm,
Cập đoạn chủng chủng nghi,
Diệc phòng sinh thành tâm.

Tạm dịch:
Trong sự điều phục ấy
Khiến lìa tâm chấp tướng
Trừ các loại lưới nghi
Ngăn ngừa sinh khởi tâm.

Bài kệ nầy Di-lặc Bồ-tát truyền cho ngài Vô Trước, ngài Vô Trước truyền lại cho ngài Thế Thân. Trong kinh nầy ngài Vô Trước phân ra thành 18 trụ, ngài Thế Thân ngay nơi kinh nầy phân thành 27 điều để đoạn trừ nghi, hoặc trong một trụ (địa) có hai mối nghi hoặc ba nghi, hoặc trong một nghi có 3 hoặc 4 trụ. Luận ấy có tên gọi không giống nhau như vậy đó! Ngài Vô Trước lấy trụ địa thứ nhất phối hợp với vác giai vị trong Thập phát tâm, lấy trụ địa thứ nhì phối hợp với 6 hạnh đầu trong 10 giai vị của thập hạnh, trụ địa thứ ba phối hợp với giai vị thứ 7 trong Thập hạnh, trụ địa thứ tư phối hợp với giai vị thứ 8, 9, 10 của Thập hạnh; trụ địa thứ năm đến trụ địa thứ 14 phối hợp với Thập hồi hướng; trụ địa thứ 15 phối hợp với Tứ gia hạnh vị; trụ địa thứ 16 tương đương Thế đệ nhất địa; trụ địa thứ 17 tương đương Sơ địa; trụ địa thứ 18 theo Nhị địa trở lên, cho đến Phật địa, đều gọi chung là Như Lai địa. Kinh nầy đã lấy vô tướng làm tông, sao còn bao hàm các giai vị sâu cạn? Tuy là do phần cảm tính nhẹ dần đi, giai vị các trụ địa chuyển lên cao dần, nghĩa có phần giống nhau, đại lược là phối hợp và dung nhiếp nhau, chưa từng trở ngại, nhưng khi đưa vào phối hợp với các kinh luận khác thì có phần trệ ngại nơi tướng, nên nghĩa lý thâm sâu của nó bị trái với chỗ uẩn áo của kinh. Sở dĩ bộ luận của ngài Thế Thân nầy có điểm chủ yếu nêu ra các mối nghi là do ý chỉ của ngài Di-lặc Bồ-tát. Người đời sau khi trì kinh nầy nên tôn trọng cả hai ngài Vô Trước và Thế Thân.

1. Đoạn trừ mối nghi thực hành bố thí trụ tướng để cầu Phật quả.

Mối nghi nầy do văn trước nói rằng bố thí không nên trụ vào tướng.

Công Đức Thí Bồ-tát Luận nói rằng: “Bồ-tát khi bố thí còn không trụ nơi pháp, sao còn vì thân tướng tốt đẹp mà thực hành bố thí? Trăm ngàn phước tướng do pháp công đức mà tụ lại nên gọi là Thế tôn, nếu không trụ trong pháp, làm sao thành tựu được thể tướng như chư Phật?”

Để khiển trừ mối nghi nầy, nên kinh nói:

(Còn tiếp)

 


[33] T08n0236ap0752c12║Đản ưng như thị hành ư bố thí 但應如是行於布施) Bồ-đề Lưu-chi (s: Bodhiruci): Nhan đề Kim Cang Bát-nhã.
[34] Ðộng Sơn Lương Giới 洞 山 良 价; C: dòngshān liángjiè; J: tōzan ryōkai; 807-869; Thiền sư Trung Quốc, Pháp tự của Thiền sư Vân Nham Ðàm Thạnh. Cùng với môn đệ là Tào Sơn Bản Tịch, Sư sáng khai tông Tào Ðộng, một dòng Thiền được lưu truyền đến ngày nay. Sư quyền khai ngũ vị để giáo hoá học đồ, đời sau gọi là Ðộng Sơn ngũ vị.
Sư họ Du quê ở Cối Kê. Thuở nhỏ theo thầy tụng Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh đến câu: “Vô nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, ý”, Sư lấy tay rờ mặt hỏi thầy: ‘Con có mắt, tai, mũi, lưỡi sao kinh nói không?’
Thầy thấy lạ và giới thiệu Sư đến núi Ngũ Duệ yết kiến Thiền sư Linh Mặc (trước học đắc nơi Mã Tổ, đại ngộ nơi Thạch Ðầu). Năm 21 tuổi, Sư đến Tung Sơn thụ giới cụ túc. Sau đó Sư du phương, yết kiến Nam Tuyền Phổ Nguyện.
Khi sắp tịch, Sư cạo tóc tắm gội xong, đắp y bảo chúng đánh chuông, giã từ chúng ngồi yên mà tịch. Ðại chúng khóc lóc mãi không dứt. Sư chợt mở mắt bảo: ‘Người xuất gia tâm chẳng dính mắc nơi vật, là tu hành chân chính. Sống nhọc thích chết, thương xót có lợi ích gì?’ Đến ngày thứ bảy. Thụ trai cùng chúng xong, Sư bảo: ‘Tăng-già không việc, sắp đến giờ ra đi, chớ làm ồn náo.’ Nói xong Sư vào trượng thất ngồi yên mà tịch. Bấy giờ là tháng ba năm thứ mười, niên hiệu Hàm Thông đời Ðường. Sư thọ 63 tuổi, 42 tuổi hạ. Vua sắc phong là Ngộ Bản Thiền sư.
[35]Triệu Châu Tòng Thẩm 趙 州 從 諗; C: zhàozhōu cóngshěn; J: jōshū jūshin; 778-897; Thiền sư Trung Quốc, môn đệ thượng thủ của Nam Tuyền Phổ Nguyện. Thiền sư Nhật Bản Ðạo Nguyên Hi Huyền – nổi tiếng là khó tính trong việc đánh giá mức giác ngộ của các Thiền sư – cũng công nhận Triệu Châu là ‘Ðức Phật thân mến.’ Sư có 13 truyền nhân nhưng không mấy ai được gần bằng Sư và dòng này thất truyền chỉ sau vài thế hệ.
Cuộc đời Triệu Châu cho thấy điều mà các Thiền sư hay nhấn mạnh rằng, Kiến tính chỉ là bước đầu của việc tu học Thiền. Triệu Châu đã kiến tính từ năm 18 tuổi nhưng sau đó còn học Thiền 40 năm với Nam Tuyền. Sau khi Nam Tuyền qua đời, Sư vân du đọ sức với các Thiền sư khác trong những Pháp chiến.
Tương truyền rằng Sư đã tìm gặp khoảng 80 Thiền sư, phần lớn là những môn đệ đắc pháp của Mã Tổ

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s