Thích Nữ Khánh Năng: Sự Phát Triển Của Học Thuyết Bồ Tát và Những Liên Hệ Đến Kinh Tạng Nikāya

(Ảnh: Viên Mãn)

Chương I: Giới Thiệu

1.1 Mục đích và tầm quan trọng của bài khảo cứu

Kinh tạng Nikāya và các bản kinh tương đương của những trường phái Phật giáo thời kỳ đầu mô tả đời sống lý tưởng của đệ tử Phật bằng hình tượng A-la-hán, trong khi đó những kinh điển Đại thừa được kiết tập một vài thế kỷ sau, theo tiếng Phạn tiêu chuẩn, mô tả đời sống lý tưởng của người học Phật bằng hình tượng Bồ-tát. Bên cạnh đó, có một quan điểm được chấp nhận rộng rãi, đặc biệt là trong số các học giả phương Tây về Phật giáo, rằng học thuyết Bồ-tát là một sáng tạo của Đại thừa; một số khác còn tưởng tượng rằng Thượng Tọa bộ là ích kỷ, tự lợi, vì đã dạy con người nên tìm kiếm sự cứu rỗi cho chính họ. Vì thế, thật cần thiết để làm sáng tỏ vấn đề này.

Theo Phật giáo, A-la-hán được xem là người hành động không dựa trên nhu cầu cá nhân, mà từ nhu cầu của người khác, vì A-la-hán đã vượt qua được những ràng buộc của bản thân, không bị điều động bởi tham lam, hận thù và ảo tưởng; ngài hiển thị một nhân cách hoàn toàn khác biệt với người bình thường . Tương tự như thế, mỗi việc làm của Bồ-tát đều được thúc đẩy từ nguyện vọng chứng đắc đạo quả rốt ráo vì lợi ích của chúng sanh; để thực hiện ước nguyện này, ngài phát Bồ-tát nguyện bằng cách tu tập Lục ba-la-mật.

Cả hai hình ảnh về một con người hoàn hảo biểu thị rất chính xác thông điệp của Phật giáo. Với lòng từ bi, một vị A-la-hán hoặc một vị Bồ-tát có lòng khát khao như là động lực để sẵn lòng giúp đỡ người khác. Đầu tiên ngài nỗ lực để đạt giải thoát, Niết-bàn, rồi thì ngài giúp đỡ người khác bằng chính kinh nghiệm và kỹ năng của mình. Trong bài khảo cứu này chúng tôi đã sử dụng khái niệm làm việc vì lợi ích của người khác về mặt ý nghĩa đạo đức. Đề nghị của chúng tôi là mối quan hệ gì mà chúng ta có thể tìm thấy từ các truyền thống Phật giáo khác nhau mặc dù thoạt tiên nó dường như rất khác so với lý tưởng. Như vậy, chúng ta sẽ tìm thấy câu trả lời trong khi đặt vấn đề: Tại sao trong Kinh tạng Nikāya, đức Phật không bao giờ dạy người khác đi theo con đường Bồ-tát. Bất cứ khi nào Ngài cũng thúc giục các đệ tử nỗ lực cho quả vị A-la-hán, cho giải thoát, cho Niết-bàn. Nhưng các nhà Đại thừa đã xây dựng thành khái niệm, học thuyết; dần dần lý tưởng Bồ-tát đã trở thành mục đích tối hậu cho bất kỳ ai muốn trở trành một người hoàn hảo theo các nhà Đại thừa. Thêm vào đó, dựa vào đâu mà các nhà Đại thừa cho rằng chỉ có một Phật thừa duy nhất, theo đó tất cả Phật tử đều cố gắng cho lý tưởng Bồ-tát dẫn đến Phật quả? Phải chăng có sự khác biệt giữa Thượng Tọa bộ và Đại thừa về Niết-bàn?

Để trả lời những câu hỏi này, dường như chúng ta cần phải đề cập đến triết học như một trong những nguyên nhân sâu xa nhất cho sự phát triển của Phật giáo. Trong đó mỗi sự phát triển mới diễn ra trong sự tiếp diễn liên tục từ sự phát triển trước đó. Không có gì trông khác biệt hơn một cái cây nhỏ và một cây cổ thụ; hoặc một người lớn và một đứa trẻ, mặc dù anh ta có cùng một cơ thể và sự tương tục. Trong Phật giáo thực sự không có sự đổi mới hoàn toàn, nhưng những gì có vẻ như vậy thực tế là sự thích nghi tinh tế của các ý tưởng trước đó. Như vậy, sự phát triển của học thuyết Bồ-tát nên được hiểu theo khía cạnh triết học.

1.2 Đánh giá tài liệu

Chủ đề này đã được bàn thảo bởi rất nhiều học giả. Har Dayal trong tác phẩm bất hủ của mình “Học Thuyết Bồ-tát Trong Văn học Phạn Ngữ Phật Giáo” đã tìm cách chỉ ra những khía cạnh quan trọng của Bồ-tát đạo như ‘Tư duy về Giác ngộ’, Ba-la-mật và Địa. Thông qua học thuyết Bồ-tát trong Văn học Phạn ngữ, rất nhiều tài liệu tham khảo liên quan đến Văn học Pāli cũng được cung cấp. Với “Lịch Sử Tư Tưởng Phật Giáo” của E. J. Thomas, học thuyết Bồ-tát được giải thích theo đường lối của Đại thừa và sự mô tả đầy đủ được đưa ra đề cập đến Kinh Pháp Hoa và chủ yếu về Bồ-tát Quán Thế Âm. Về Bồ-tát đạo, tác phẩm này giải thích theo như Đại Sự (Mahāvastu) và Thập Địa Kinh (Daśabhūmika Sūtra). Nalinksha Dutt với “Các Khía Cạnh của Đại Thừa và Mối Liên Hệ Với Tiểu Thừa” đã cố gắng tìm ra mối liên hệ giữa Tiểu thừa và Đại thừa. Trong quyển sách này một vài điểm đã được chỉ ra để xác định những điểm đặc trưng, mà theo đó chúng ta có thể phân biệt Đại thừa và Tiểu thừa. Những điểm đặc trưng đó là học thuyết Bồ-tát, thực hành các Ba-la-mật, phát triển Bồ-đề tâm, mười giai đoạn của lộ trình tu đạo. D. T. Suzuki trong tác phẩm của ông“Nghiên Cứu Kinh Lăng-già”chỉ tập trung vào cuộc đời và công trình của Bồ-tát. Tác phẩm này đã đề cập đến giới Bồ tát; làm thế nào một vị Bồ-tát thanh tịnh tâm, thanh tịnh xã hội và làm thế nào mà công đức của Bồ-tát được chuyển giao cho chúng sanh. Toshiichi Endo với “Đức Phật Trong Phật Giáo Thượng Toạ Bộ” đã xem xét học thuyết Bồ-tát với những khía cạnh khác nhau. Ông đã gây chú ý khi đưa ra nhận xét rằng các bản chú giải, cụ thể những bản chú giải của ngài Pháp Hộ (Dhammapala) đã nêu ra ba hạng Bồ-tát, cụ thể là Đại Bồ-tát, Thanh Văn Bồ-tát và Duyên Giác Bồ-tát. Sự phân loại Bồ-tát này đóng một vai trò sống còn, thậm chí trong học thuyết về Ba-la-mật. Walpola Rahula trong bài viết của mình “Lý Tưởng Bồ-tát trong Thượng Tọa Bộ và Đại Thừa”chủ yếu bàn đến những sai lầm khi nói rằng học thuyết Bồ-tát chỉ có ở Đại thừa. Walpola Rahula cho rằng đây là một quan niệm sai lầm, thiếu hiểu biết đúng đắn về văn bản của Thượng Tọa bộ, bởi vì có Bồ-tát trong Thượng Tọa bộ cũng như trong Đại thừa. Tuy vậy,những tác phẩm của các học giả này chủ yếu chỉ tập trung vào một hoặc hai khía cạnh của học thuyết Bồ-tát. Do đó, một bài nghiên cứu so sánh có hệ thống về Sự Phát Triển của Học Thuyết Bồ-tát và Những Liên Hệ đến Kinh Tạng Nikāya vẫn còn là một điều mong mỏi. Đặc biệt cuốn sách của Nathan Katz với tựa đề “Những Hình Ảnh Người Tu Phật Hoàn Hảo” là một nghiên cứu kỹ lưỡng về cả phân tích Văn bản học cũng như nghiên cứu phổ quát. Nathan Katz phê bình sự nhấn mạnh đến điều khác biệt và thích đề cập đến Phật giáo như một tổng thể hơn. Phần lớn trong quyển sách này là sự xem xét lại hình ảnh A-la-hán được tìm thấy trong Văn học Thượng Tọa bộ thấm nhuần bởi những vấn đề được xây dựng bởi Văn học Đại thừa và Kim Cương thừa. Hình ảnh A-la-hán lúc này được so sánh với Bồ-tát và Đại Thành Tựu Giả (Mahāsiddha). Sự so sánh này bao hàm những thảo luận tiên phong về Triết học Phật giáo, Ngôn ngữ học và Chú giải Văn bản cổ, với sự trợ giúp của Nathan Katz liên quan đến Pāli, sự mắc níu của Phạn ngữ với truyền thống Phật giáo hiện nay. Tác phẩm của ông đã lôi cuốn chúng tôi làm bài khảo cứu này…

* Trích bài đăng Phật học Luận tập – 3, song ngữ Anh Việt, phát hành đâu tháng 1/2018. – Hương Tích Phật Việt ấn hành

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s